Kiến nghị của cựu Đại sứ Nguyễn
Trung kêu gọi đích danh Tổng bí thư ĐCSVN Nguyễn Phú Trọng ra quyết
định tiến hành một cuộc cải cách chính trị ‘không thể trì hoãn’. –HOANG DINH NAM/AFP
Một cựu Đại sứ Việt Nam tại
Thái Lan, Đức và nguyên cộng tác viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính
phủ Việt Nam vừa công bố một ‘kiến nghị tâm huyết’ trong đó kêu gọi
đích danh Tổng bí thư Đảng CSVN ông Nguyễn Phú Trọng ra quyết định ‘khép
lại quá khứ’, ‘huy động toàn đảng’ và ‘dựa vào trí tuệ nhân dân cả
nước’ tiến hành ‘một cuộc cải cách chính trị không thể trì hoãn’.
Kiến nghị do ông Nguyễn Trung, nguyên tổng thư ký Hội đồng Kinh tế đối
ngoại của Chính phủ, cựu trợ lý của Thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt, đề
ngày 24/9 và công bố trên truyền thông
hôm 27/9/2017 đề nghị đảng đang cầm quyền duy nhất ở Việt Nam hiện nay
‘lấy lại tên cũ’ là đảng Lao động và tuyên bố ‘trước quốc dân, đồng bào
và quốc tế’ quyết định đổi mới thành một ‘đảng yêu nước của dân độc và
dân chủ’.
Người từng là thành viên Tổ nghiên cứu kinh tế đối ngoại của Thủ
tướng Phan Văn Khải, cộng tác viên Ban Nghiên cứu của Thủ tướng chính
phủ Việt Nam, bên cạnh nhiều nội dung quan trọng trong văn bản gồm 42
trang với ba phần lới và bốn phụ lục, cũng đề nghị Đảng và nhà nước cộng
sản Việt Nam ngay sau khi có các tuyên bố cải tổ ‘trả lại tự do’ cho
tất cả tù chính trị ‘bị tù vì bất đồng chính kiến với chế độ chính trị’.
Đồng thời kiến nghị đề nghị Đảng tiến hành cuộc vận động lớn trong cả
nước nhằm thực hiện ‘hòa giải và đoàn kết dân tộc’, tạo ra ‘đồng thuận’
toàn dân tộc nhằm tiến hành ‘thắng lợi cuộc cải cách đổi đời đất nước’. BBC: Hội luận về bản Kiến nghị của Nguyễn Trung Giáo sư Tương Lai từ bỏ Đảng Cộng sản Kêu gọi lãnh đạo ‘đổi tên đảng, tên nước’
Theo bản kiến nghị có tựa đề “Cùng nhau mở con đường cải cách, đưa
đất nước vào thời kỳ phát triển mới. Một kiến nghị tâm huyết’, cuộc cải
tổ đảng và cải cách chính trị có ba giai đoạn. Giai đoạn một là đảng tự
thay đổi, ‘cải cách trước về đường lối, tổ chức và phương thức hoạt
động’, mà trong đó đảng chuyển sang hoạt động theo phương thức ‘đảng cầm
quyền’ trong thể chế chính trị ‘pháp quyền dân chủ’ (coi như không còn
‘điều 4’ trên thực tế), lấy xã hội dân sự làm ‘địa bàn hoạt động chủ
yếu’ v.v… duy trì cải cách nhưng lưu ý không để tạo ra ‘khoảng trống
quyền lực’.
Giai đoạn hai theo kiến nghị là lúc ‘thực hiện tiếp’ những bước cải
cách cụ thể ‘đã đề ra trên cơ sở ‘giữ bộ khung cũ’ của toàn hệ thống
hành chính sự nghiệp với ‘những thay đổi cần thiết’ về tổ chức, cơ chế
hoạt động, nhân sự’ v.v… và đặc biệt là ‘ban hành dự thảo Hiến pháp mới’
huy động ‘toàn dân tham gia xây dựng’, ban hành dự thảo và thông qua
luật về ‘các đảng phải chính trị và các tổ chức đoàn thể xã hội’ nhằm
xây dựng thành ‘bộ luật chính’ về sau làm ‘cơ sở pháp lý’ cho hoạt động
của ‘mọi đảng phái chính trị và đoàn thể xã hội’. Bản quyền hình ảnhOtherImage caption Ông Nguyễn Trung có trên 40 năm làm việc trong ngành ngoại giao của Việt Nam và có 52 năm tuổi đảng.
Giai đoạn cuối cùng, theo tác giả kiến nghị Nguyễn Trung là ‘thông
qua Hiến pháp mới’, đồng thời thực hiện tiếp ‘mọi bước đi của cải cách’
xây dựng hay hoàn thiện ‘những luật pháp và thể chế kinh tế’ theo Hiến
pháp và hệ thông pháp luật mới, trong đó nhấn mạnh ‘thước đo nội dung và
tiến triển’ của cải cách ở giai đoạn này là ‘thành tựu phát triển kinh
tế’ và ‘sự ra đời của thể chế chính trị’.
Tham khảo mô hình và đội ngũ chuẩn bị
Việt Nam có cần tư duy lại để phát triển? Kêu gọi thành lập chính đảng mới ở VN Đảng CS cảnh cáo chủ tịch Đà Nẵng Vụ Trịnh Vĩnh Bình và Trịnh Xuân Thanh: Bài học quá đắt
Theo ông Nguyễn Trung, để tiến hành cuộc cải tổ, cải cách chính trị
quan trọng này, Đảng Cộng sản Việt Nam nên tham khảo một số mô hình, tác
giả viết:
“Nên tham khảo mô hình thế chế chính trị hay nhà nước và bộ máy hành
chính sự nghiệp của Singapore, Nhật và Hàn Quốc để vận dụng vào nước ta
theo tinh thần của Tuyên ngôn Độc lập 02-09-1945, Hiến pháp 1946 và cách
tổ chức quốc hội 1946, được bổ sung những nét cập nhật phù hợp với đòi
hỏi của đất nước và bối cảnh quốc tế hiện tại. Nét đặc trưng chung của 3
mô hình này (Singapore, Nhật, Hàn Quốc) là tính tập trung để tạo ra khả
năng quyết đoán cao, đồng thời bảo đảm được dân chủ, tính công khai
minh bách và trách nhiệm giải trình.
“Trên cơ sở những bước tiến mới nói trên, tiến hành xây dựng một thể
chế chính trị hay nhà nước đa nguyên, hình thành một số đảng chính trị
mới theo Hiến pháp mới và Luật về đảng phái chính trị và các tổ chức xã
hội dân sự như đã được thông qua ở giai đoạn II.
“Nên xây dựng các lý lẽ thuyết phục, và được bảo đảm bằng bộ luật về
các đảng phái chính trị và đoàn thể nói trên được thiết kế phù hợp, để
hình thành thêm các đảng chính trị mới có thể tham chính thông qua Luật
bầu cử dân chủ tự do và theo quy định của Hiến pháp.”
Kiến nghị cho rằng cần ‘chuẩn bị sớm’ một chiến lược cải cách để được
‘thông qua sớm nhất có thể’ tại một đại hội đảng ‘toàn quốc bất thường’
để sau đó ‘triển khai thực hiện’, tác giả viết:
“Nhưng ngay sau khi Bộ Chính trị đã đi tới được quyết định phải tiến
hành cải cách, Bộ Chính trị nên có ngay một tuyên bố trình bày rõ quyết
định chiến lược này, kêu gọi cả nước và toàn đảng đoàn kết và phát huy
tinh thần yêu nước đem hết tâm huyết tham gia sự nghiệp cách bằng mọi
hành động và việc làm thiết thực, dấy lên trong cả nước một hào khí mới,
làm cho nhân dân và từng đảng viên ngay từ ngày đầu tiên cảm nhận được
sự nghiệp cải cách này là trách nhiệm của chính mình, chủ động làm mọi
việc có thể góp phần tham gia của mình.”
Về hạt nhân nhóm được gọi là ‘adhoc’ có nhiệm vụ giúp đảng cộng sản
‘xây dựng nội dung chiến lược’ cải tổ, cải cách, người từng có trên 40
năm hoạt động trong ngành ngoại giao và có 52 năm tuổi đảng, cho hay và
đề nghị:
“Trong quá trình chuẩn bị Đại hội XII tôi đã kiến nghị thành lập nhóm
ad hoc gồm các đồng chí Bùi Quang Vinh [cựu Bộ trưởng Kế hoạch &
Đầu tư, nguyên Ủy viên BCHTƯ Đảng], Vũ Đức Đam [Ủy viên BCHTƯ Đảng Phó
Thủ tướng Chính phủ] và Phạm Bình Minh [Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ
tướng, Bộ trưởng Ngoại giao] giúp đảng xây dựng nội dung Đại hội theo
hướng xúc tiến cải cách nói trên. Nay tôi xin đề nghị một lần nữa: Bộ
Chính trị nên quyết định lập sớm một nhóm như thế giúp đảng bắt tay ngay
vào việc chuẩn bị và xây dựng chiến lược cải cách.” Lãnh đạo đổi mới và cải tổ đa đảng Bản quyền hình ảnhOtherImage caption Giáo sư Tương Lai mới tuyên bố rời khỏi Đảng Cộng sản Việt Nam hôm 02/9/2017 để đi tìm ‘một con đường đấu tranh mới’. VN thúc đẩy kinh doanh trong bất ổn thể chế Đảng CS ‘cần kỷ luật thép’ để không tan rã? Đảng Cộng sản sẽ ‘thực lòng’ đối thoại? Đảng Cộng sản VN xem xét ‘tổ chức đối thoại’
Trong một văn bản được trình bày công phu ‘không kém gì’ một báo cáo
chính trị, bản kiến nghị gồm 42 trang của tác giả Nguyễn Trung đề cập
rất nhiều vấn đề, ý tưởng, được xắp sếp khá dày đặc, có luồng lạch,
lôgíc, mang tính hệ thống, đặc biệt trong đó, ông dành một thời lượng
nhất định đề cập hai nội dung giúp trả lời câu hỏi ai sẽ là hạt nhân,
lãnh đạo cuộc đổi mới được gọi là ‘cuộc đổi đời của đất nước’ và nên cải
tổ chính trị, đặc biệt là tái cấu trúc nền chính trị đảng phái mà hiện
nay là ‘độc đảng, toàn trị’ cụ thể như thế nào.
Nhưng trước hết, về ‘cái đích phải tới’ của cải tổ, cải cách, bản
kiến nghị có đoạn viết: “Nhiệm vụ có ý nghĩa lịch sử vô cùng trọng đại
này của đất nước hôm nay đặt lên vai ĐCSVN và đội ngũ lãnh đạo không
phải là đập vỡ “bình” hay sửa “bình”. Cả hai việc này đều không thể,
không cần thiết, và đều không phải là giải pháp, thậm chí có thể nguy
hiểm cho đất nước.
“Nhiệm vụ lịch sử không được phép tránh né của đảng hôm nay là phải
cất cái “bình” hiện nay vào nơi trang trọng nhất có thể trong bảo tàng –
phần lịch sử Việt Nam cận đại, để đánh dấu sự kết thúc con đường đất
nước đã đi từ năm 1930 đến hôm nay, để từ đây thông qua cải cách thể chế
chính trị mở ra một thời kỳ phát triển mới của nước Việt Nam độc lập
thống nhất trong thế giới đã sang trang.”
Theo kiến nghị, cuộc ‘cải cách đổi đời đất nước’ mang tầm vóc và nội
dung quan trọng, ‘bao quát toàn bộ đời sống mọi mặt của đất nước’, làm
nhiệm vụ ‘thay đổi triệt để toàn bộ’ hệ thống chính trị – nhà nước của
quốc gia hiện có.
Về vai trò của chủ thể hay hạt nhân lãnh đạo cuộc cải tổ, cải cách
quan trọng ấy, trong khi và mặc dù viết rằng ‘cải cách phải là sự nghiệp
của toàn dân’ với một nhấn mạnh ‘trước hết là thay đổi chính từng người
dân từ đây thành người chủ của đất nước’, tác giả bản kiến nghị nêu rõ
quan điểm của mình:
“So sánh tương quan các lực lượng chính trị – kinh tế – xã hội ở nước
ta trong tình thế cấp bách hiện nay, một lực lượng chính trị đủ mạnh và
có sẵn như thế chỉ có thể là ĐCSVN đã chuyển đổi thành đảng của dân
tộc. Đây cũng là điều lý tưởng nhất có thể lúc này để tiến hành cải cách
trong hòa bình theo tinh thần khép lại quá khứ và không hồi tố, vì thời
gian và nguy cơ không chờ đợi!” Bản quyền hình ảnhOtherImage caption
Cố Phó Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Thành phố Hồ Chí Minh, ông Lê Hiếu
Đằng đã tuyên bố ra khỏi đảng cộng sản ngày 04/12/2013, không lâu trước
khi ông qua đời.
Về tái cấu trúc, cải tổ hệ thống chính trị trong đó có hệ thống đảng
phái từ độc đảng cầm quyền sang ‘đa đảng tham chính’, Nguyễn Trung nhấn
mạnh và lưu ý: “Ở nước ta, hợp lý nhất có lẽ chỉ nên hình thành thêm hai
đảng tham chính mới như đã từng có trong thời đầu của nước VNDCCH – đó
là đảng Dân Chủ và Đảng Xã hội – song phải là hai đảng có thực quyền và
bình đẳng trước pháp luật như mọi đảng khác theo Luật. Nếu có nhiều đảng
nữa sẽ rối và không cần thiết.
“Hiến pháp và các bộ Luật liên quan cần được thiết kế sao cho bảo đảm
nghiêm túc yêu cầu: thực hiện đa nguyên, nhưng bảo đảm không quá ba
đảng tham chính trong tranh cử và bầu cử; thủ lĩnh của đảng có đa số ghế
lớn nhất trong Quốc hội sẽ là tổng thống với chức năng là người đại
diện quốc gia cao nhất và có quyền lực cao nhất cả nước; thủ tướng là
người trực tiếp điều hành nội các (chính phủ) do tổng thống bổ nhiệm và
được quốc hội chấp thuận; với điều kiện của nước ta, nên thực hiện chế
độ một viện duy nhất là quốc hội; tuy nhiên nên thực hiện chế độ bầu cử
từng phần so le để bảo đảm sự hoạt động liên tục của quốc hội (không bị
gián đoạn qua mỗi kỳ bầu cử).
“Tiến hành bầu cử thành lập hệ thống nhà nước theo Hiến pháp mới, nên
mời sự giám sát quốc tế cuộc bầu cử để nâng cao uy tín của chính thể
mới, đồng thời tranh thủ sự ủng hộ hay hậu thuẫn của cộng đồng quốc tế.”
Trân trọng đề nghị Tổng bí thư
Sau khi tóm lược nét chính yếu của cải cách được cho là gồm năm nội
dung lớn, gồm thứ nhất cải cách chính trị sao cho nước Việt Nam là của
người Việt Nam, theo đúng tinh thần cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945 với
các tiêu chí được nhấn mạnh là dân chủ, cộng hòa, độc lập, tự do, hạnh
phúc, thứ hai lấy kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền, xã hội dân sự
làm ba trụ cột, thứ ba xây dựng thể chế chính trị là một nhà nước pháp
quyền dân chủ, rạch ròi tam quyền phân định, thứ tư là bảo đảm các quyền
công dân, quyền con người phổ quát giúp mang lại ‘động lực cải cách’ và
thứ năm là nhấn mạnh toàn bộ đảng phái chính trị, hiệp hội phải hoạt đ
trong khuôn khổ xã hội dân sự, hiến pháp và pháp luật, tác giả Nguyễn
Trung viết trong phần kết luận kiến nghị:
“Trên đây chỉ là một gợi ý sơ bộ để tham khảo. Tôi tin rằng nếu lãnh
đạo đảng huy động trí tuệ cả nước xây dựng chiến lược cải cách đưa đất
nước đi vào thời kỳ phát triển mới, chắc chắn đất nước sẽ có được một
chiến lược cải cách của toàn dân và nhất định thành công.
“Tới đây tôi trân trọng đề nghị: Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, với
trách nhiệm là người giữ cương vị cao nhất trong đảng, yêu cầu Bộ Chính
trị ra quyết định khép lại quá khứ, đoàn kết toàn Bộ Chính trị và toàn
đảng, huy động toàn đảng và dựa vào trí tuệ của nhân dân cả nước quyết
tiến hành cuộc cải cách chính trị không thể trì hoãn này. Đảng phải thay
đổi thành đảng của dân tộc để có thể dấy lên cuộc cải cách của toàn dân
cứu nước và đổi đời đất nước! Bản quyền hình ảnhOtherImage caption
Tác giả kiến nghị, ông Nguyễn Trung (thứ hai từ trái sang) đã tham gia
nhiều nhóm kiến nghị của nhân sỹ, trí thức cao cấpở Việt Nam kêu gọi
Đảng và nhà nước CSVN cải tổ, thay đổi.
“Đây cũng là con đường cứu đảng thành đảng của dân tộc, mãi mãi đi
với dân tộc. Thời gian không chờ đợi. Mọi thách thức trong hay ngoài
đang uy hiếp đất nước không biết chờ đợi!
“Trước những thách thức nghiêm trọng của quốc gia, tôi cầu mong cả
nước – đặc biệt là những đảng viên muốn cứu đảng để cứu nước – hãy lên
tiếng về vận mệnh đất nước, cùng nhau làm tất cả mọi việc vì đất nước
với sự giác ngộ cao nhất về cuộc cải cách phải tiến hành này!”
Bản kiến nghị của tác giả Nguyễn Trung được công bố chỉ vài tuần
trước Hội nghị Trung ương 6 của BCHTƯ Đảng Cộng sản Việt Nam được dự
kiến diễn ra trong tháng 10/2017.
Trước đó, cũng có một sự kiện khác đáng lưu ý là việc một Đảng viên cao cấp của Đảng Cộng sản, Giáo sư Tương Lai,
nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học, cựu thành viên Tổ tư vấn của Thủ
tướng Chính phủ Việt Nam thời các ông Võ Văn Kiệt và Phan Văn Khải, đã
tuyên bố từ bỏ Đảng cộng sản và tuyên bố muốn đi tìm một “phương thức
đấu tranh mới”.
Trong tuyên bố hôm 02/9/2017, Giáo sư Tương Lai viết “Những gì đã cũ
kỹ, hư hỏng trong bộ máy quyền lực duy trì chế độ toàn trị phản dân chủ
sẽ bị lật nhào” và rằng “vấn đề chỉ còn là thời gian.”
Ông Tương Lai không phải là trường hợp đảng viên cao cấp rời bỏ hàng
ngũ của đảng Cộng sản, một trong các trường hợp khác là ông Lê Hiếu
Đằng, cố Phó chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Thành phố Hồ Chí Minh, ông đã
tuyên bố ra khỏi đảng ngày 04/12/2013, một thời gian trước khi qua đời.
Liên quan bản kiến nghị hôm 24/9/2017 của Nguyễn Trung, được biết vài
năm trước đây, tác giả kiến nghị cũng đã có tên trong một bức Thư ngỏ đề ngày 09/12/2015 gửi Bộ Chính trị, trong đó những người chấp bút và ký tên đã kêu gọi Ban lãnh đạo Đảng CSVN ‘đổi tên đảng và tên nước’.
Mời quí vị bấm vào đường dẫn này để theo dõi một cuộc Tọa đàm của BBC bình luận về kiến nghị của ông Nguyễn Trung.
______________________________________
*
Cải cách thường phải do một lực lượng chính trị có ảnh hưởng và quyền
lực chi phối quốc gia tiến hành – ví dụ như đảng nắm quyền, chính phủ,
một lực lượng chính trị mạnh áp đảo… Nhưng tôi vẫn đặt vấn đề cả nước cùng tham gia cải cách vì các lý do sau đây:
Cải cách đã trở thành đòi hỏi sinh tử của đất nước.
Vì là cải cách đổi đời đất nước, nên phải là sự nghiệp của toàn dân.
Cái đích cải cách phải tới là hình thành một thể chế chính trị – nhà
nước dân chủ dựa trên kinh tế thị trường – nhà nước pháp quyền – xã hội
dân sự.
Xin trình bầy lần lượt như sau.
Đòi hỏi sinh tử: Cải cách đổi đời đất nước
Cục diện thế giới hiện nay đặt nước ta vào tính thế nguy hiểm chưa từng có kể từ khi giành được độc lập thống nhất 30-04-1975:
– Tranh chấp Mỹ – Nga – Trung rất phức tạp nói riêng và những vấn
đề kinh tế, chính trị và an ninh nóng bỏng ở phạm vi toàn cầu trong cục
diện thế giới đa cực hiện nay nói chung đặt ra cùng một lúc nhiều vấn đề
lớn chưa có lời giải. Chiến tranh lạnh II ngày càng quyết liệt trên các
mặt trận kinh tế, chính trị, quân sự. Đang tiềm tàng cùng một lúc các
nguy cơ xung đột lớn ở châu Á, châu Âu và Trung Đông có thể dẫn tới
chiến tranh thế giới III.
Giới chiến lược Mỹ cho rằng cả Trung Quốc và Nga vì lợi ích riêng đều
muốn khai thác sự lúng túng của Mỹ trong vấn đề tên lửa và vũ khí A của
Bắc Triều Tiên. Vì thế cho đến nay hai nước này vẫn không đi đến cùng
với Mỹ (trên thực tế gần như bỏ mặc cho Mỹ) trong việc gây sức ép phải
có đối với Bắc Triều Tiên. Sự nghi ngờ của Mỹ đi xa tới mức cho rằng:
Bắc Triều Tiên được sự giúp đỡ nào đấy về kỹ thuật, vật chất..; có người
nói tiềm tàng những vụ đổi chác lớn – ví dụ đổi vấn đề tên lửa và vũ
khí A của Bắc Triều Tiên lấy “cái lưỡi bò” ở Biển Đông… (chẳng lẽ lịch
sử có thể lập lại chuyện “Kissinger – Chu Ân Lai 1972”?)
Trong cuộc đấu tay ba Mỹ – Nga – Trung mỗi bên đều có cái mạnh và cái
yếu riêng với sự tập hợp lực lượng và phe cánh riêng rất phức tạp, có
nhiều mặt trận đối kháng chính/phụ, nóng/lạnh khác nhau, cục diện thay
đổi từng giờ.
Cái mạnh nổi bật của Trung Quốc là sự phát triển năng động của kinh
tế thế giới cần thị trường rộng lớn của Trung Quốc, sự nổi trội sức mạnh
tại chỗ so với các nước láng giềng, có tiềm lực thực hiện chiến lược
thâm nhập, câu giờ và phân hóa đối phương, chuẩn bị sẵn mọi trận địa
khác nhau tại nhiều châu lục và lấn từng bước, kết hợp với các thủ đoạn:
gặm dần (thái xúc-xích salami), lấy thịt đè người, phản ứng nhanh, mục
tiêu biện minh cho biện pháp (vô luật và vô đạo đức)… Chỗ yếu lớn nhất
của Trung Quốc là tình hình nội trị Trung Quốc có nhiều vấn đề lớn (đồng
thời rất nguy hiểm cho bên ngoài), kinh tế đang trong thời kỳ phải
chuyển đổi mô hình phát triển do kinh tế thế giới đã thay đổi. Hiện nay
Trung Quốc đang trở nên nguy hiểm nhất đối với các nước láng giềng trong
khu vực Đông Nam Á – trong đó dặc biệt là Việt Nam, đã thao túng được
đáng kể ASEAN.
Thời Tập Cận Bình, đặc biệt là trong những năm gần đây và hiện tại,
Trung Quốc đã có những bước leo thang cao nhất đến nay, quyết thực hiện
“đường lưỡi bò” tại Biển Đông, hoàn tất việc xây các căn cứ quân sự trên
các đảo đã chiếm, tiến hành nhiều hoạt động gây căng thẳng phía Bắc là
Biển Hoa Đông, kết hợp chặt chẽ với những bước đi kinh tế, chính trị của
Trung Quốc ở phạm vi toàn cầu.
Cục diện thế giới hiện tai có nhiều hệ lụy toàn cầu rất sâu sắc,
trong đó đã làm xuất hiện một trong những hệ quả rất nhạy cảm và trực
tiếp tác động vào nước ta: Vì nhiều lý do toàn cầu và khu vực tại những
nơi khác nhau trên thế giới, Biển Đông nói riêng và khu vực Đông Nam Á
nói chung đang dần dần trở thành một khu vực trống có lợi cho
Trung Quốc, hoặc trong tình huống nhất định có thể đột biến trở thành
vùng trống – dù chỉ trong khoảnh khắc, và Trung Quốc đã sẵn sàng.
Tình hình này còn có nguyên nhân: Vì nhiều lý do trên thực tế ảnh hưởng
và sự có mặt của Mỹ tại khu vực này từ thời Obama và nhất là hiện nay
không đủ mạnh để kiểm soát có hiệu quả sự bành trướng tại chỗ quyền lực
của Trung Quốc, giữa lúc thế giới có nhiều cơ hội “đục nước béo cò” khác
với những hệ lụy có thể liên quan đến Biển Đông.
Việt Nam hiện nay đứng trước thách thức quyết liệt chưa từng có kể từ
sau chiến tranh 17-02-1979. Điều gì sẽ xảy ra và Trung Quốc có thể đi
xa tới đâu, nếu xu thế nói trên ở Biển Đông diễn tiến tiếp tục, hoặc khi
xảy ra đột biến lớn tại bất kỳ một điểm nóng nào đó trong cục diện thế
giới hiện nay? Trong khi đó Trung Quốc đã tạo ra được ở Việt Nam ở mức
cao nhất đến nay sự phụ thuộc về kinh tế, sự lệ thuộc về chính trị, sự
uy hiếp nghiêm trọng về an ninh quốc phòng, và triển khai tiếp sự can
thiệp sâu hơn nữa vào nội bộ nước ta.
– Trong cục diện quốc tế và khu vực rất nguy hiểm và nhạy cảm
hiện nay, Việt Nam đang bước vào thời kỳ trầm trọng của cuộc khủng hoảng
toàn diện bắt đầu từ Đại VII (1991). Nghĩa là Viêt Nam đang ở trong
tình thế bị uy hiếp nghiêm trọng nhất trên cả hai phương diện đối nội và
đối ngoại. Đặc biêt là: Kinh tế tuy đạt mức thu nhập trung bình thấp,
song không bền vững, đang ở thời kỳ khó khăn nhất sau 30 năm đổi mới với
nhiều vấn đề cơ bản, ách tắc, nóng chưa có lời giải (vốn, nợ, tham
nhũng, kết cấu hạ tầng, quy hoạch phát triển, môi trường, năng lượng,
nước, năng lực quản trị quốc gia, giáo dục, biến đổi khí hậu…), nội trị
rối ren, an ninh quốc phòng bị uy hiếp quyết liệt nhất trong tình thế
phải đối mặt với nguy cơ bị cô lập rất cao.
– Và 30 năm đổi mới cho thấy ý thức hệ, con đường ĐCSVN; từ đại
hội VII đất nước đi vào thời kỳ khủng hoảng toàn diện, từ mấy năm gần
đây là thời kỳ trầm trọng nhất chưa từng có kể từ sau 30-04-1975. Đấy
cũng là những nguyên nhân gốc gây ra lãng phí, tham nhũng và bất công xã
hội vô cùng nặng nề, cướp đi của đất nước nội lực phải có để có thể
đương đầu với mọi thách thức sống còn trong cục diện quốc tế ngày càng
nóng bỏng hôm nay. Đồng thời đã áp dụng quá nhiều chủ trương chính sách
sai lầm, bưng bít sự thật và ngu dân, kèm theo những hành động trấn áp
khắc nghiệt, tất cả khiến cho khối đại đoàn kết dân tộc bị phân hóa sâu
sắc, trí tuệ và ý chí phấn đấu vươn lên của đất nước bị tê liệt, làm tổn
thương nghiêm trọng tinh thần tự trọng dân tộc và thể diện quốc gia,
lòng dân phân tán và mất lòng tin vào sự lãnh đạo của đảng.
Từ Hội nghị Thành Đô đến nay cho thấy đường lối ngoại giao leo dây để
giữ “đại cục”, nhưng không có nội lực vững mạnh của quốc gia làm nền
tảng, lại thêm những yếu kém của đội ngũ lãnh đạo, nên đã thất bại
nghiêm trọng. Mỗi ngày ta phải nhân nhượng một tý để giữ “đại cục” như
thế, để hôm nay là cả một cái thòng lọng không gỡ ra nổi siết trên cổ
đất nước, uy tín quốc tế giảm sút nặng nề, biên cương bờ cõi tổ quốc bị
xâm phạm, đất nước lâm vào thế vừa lệ thuộc và phụ thuộc, vừa đơn độc
một cách nguy hiểm.
Toàn bộ tình hình nêu trên còn cho thấy đường lối đối nội và đối
ngoại của đảng chẳng những đem lại cho đất nước những tổn thất lớn, mà
còn đẩy đất nước vào con đường phát triển vừa lạc hậu, vừa lạc lõng
trong xu thế phát triển chung của thế giới ngày nay. Xem xét kỹ thực
chất, quan sát trên thế giới sẽ thấy Việt Nam hiện nay là nước duy nhất
còn lại đang cố tìm cách níu kéo ý thức hệ có cỗi rễ là chủ nghĩa
Mác-Lênin và chủ nghĩa cộng sản để duy trì chế độ toàn trị và quyền lực
của đảng trong điều hành đất nước – mặc dù lãnh đạo đảng cũng thừa
nhận chưa biết cuối thế kỷ này liệu sẽ có chủ nghĩa xã hội hay không!
Nghĩa là trên thực tế về nhiều mặt sâu sắc bên trong, nước ta vẫn đang
một mình một đường đi trong thế giới hôm nay.
Sau ba thập kỷ hội nhập quốc tế, nền kinh tế đất nước vẫn gia công là
chủ yếu và chưa xác lập được vị trí phải có trong nền kinh tế toàn cầu
(ngôn ngữ chuyên môn thường nói về các chuỗi cung / ứng). Chế độ toàn
trị nặng về trấn áp các quyền tự do dân chủ, cùng với nền kinh tế yếu
kém đày rẫy bất công và tham nhũng đã dựng nên một nền nội trị vừa không
có khả năng vừa không cho phép thực hiện đường lối đối ngoại dấn thân.
Cho nên trên thực tế nước ta chỉ giành được vai trò quốc tế thấp, không
đúng với tầm vóc và vị trí chiến lược của quốc gia, chưa đáp ứng được
những đòi hỏi quan trọng của nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc; đất
nước bị thua thiệt nhiều mặt, thậm chí bị xâm phạm, mặc dù trên danh
nghĩa đã thiết lập được mối quan hệ đối tác chiến lược hay đối tác toàn
diện trên mọi châu lục.
Một mình một đường đi như vậy, nước ta càng đuổi theo thiên hạ, nhưng
hôm nay càng tụt hậu xa hơn và yếu đi – ngay cả so với tất cả các nước
láng giềng, tiếp tục lạc lõng.
Trong khi đó địa kinh tế và địa chính trị của cục diện quốc tế hôm
nay khách quan đặt ra đòi hỏi phải có một Việt Nam là một quốc gia độc
lập tự chủ, vững mạnh và phát triển, để có thể đóng góp tích cực vào lợi
ích của hòa bình, hợp tác và phát triển trong khu vực ĐNÁ và trên thế
giới. Lợi ích sống còn của Việt Nam cũng đòi hỏi phải tận dụng được yếu
tố mới này để tạo cho mình một tập hợp lực lượng rộng khắp hậu thuẫn cho
sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Đảng hôm nay quên mất bài học
việc tạo ra được một mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ Việt Nam kháng
chiến chống Mỹ cứu nước – kể cả ngay trong lòng nước Mỹ – là một trong
những yếu tố quyết định giành thắng lợi. Có thể kết luận:
Thất bại của 42 năm đầu tiên độc lập thống nhất đất nước phải hứng
chịu về nhiều mặt chính là thất bại của việc lấy chủ nghĩa trà đạp trí
tuệ và các giá trị của tự do – dân chủ – quyền con người, là do người
nắm quyền giành được một số lợi ích phe nhóm nhưng phải hủy hoại nhiều
lợi ích quốc gia và lợi ích của dân tộc, là thất bại của xây dựng chủ
nghĩa xã hội – với kết quả gặt hái được là để mọc lên trên đất nước ta
hôm nay một chế độ toàn trị khắc nghiệt, nhưng đối với bên ngoài độc lập
42 năm mà vẫn chưa độc lập!
Thất bại của 42 năm trước hết là do để cho tha hóa của chế độ một
đảng biến đảng thành đảng cai trị hôm nay cướp đi mất tiền thân của nó
là một đảng cách mạng đã từ thế hệ này sang thế hệ khác hy sinh chiến
đấu vì nước và đã làm nên sự nghiệp giành lại độc lập thống nhất, là
thất bại của sự hiểu biết mơ hồ cái thế giới khắc nghiệt chúng ta đang
sống, là thất bại của sự giác ngộ kém cỏi – hay là không giác ngộ được –
lợi ích quốc gia của ta nằm ở chỗ nào trong cái thế giới quyết liệt này
– điển hình là đường lối ngoại giao bắt đầu từ Thành Đô, mới đây lại
xảy thêm vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh. Khái quát lại:
Bốn cuộc kháng chiến cứu nước vỹ đại và 42 năm độc lập thống nhất,
công sức tiền của đổ ra cho công nghiệp hóa như núi biển, song tất cả
chỉ để đạt được nền kinh tế gia công, lãng phí và tham nhũng làm cạn
kiệt mọi nguồn lực và tài nguyên quốc gia, đã đạt mức có thu nhập trung
bình (thấp) song kinh tế không bền vững, năng suất lao động rất thấp,
môi trường tự nhiên bị hủy hoại nặng nề, chế độ toàn trị đầy rẫy bất
công và trấn áp, vị thế quốc gia èo uột… Trong khi đó từ sau chiến tranh
17-02-1979 đến nay không một lúc nào Trung Quốc ngừng nghỉ thực hiện dã
tâm bành trướng “đường lưỡi bò”; ngay trong những tuần vừa qua Trung
Quốc ép ta phải rút việc khai thác dầu khí khỏi lô 136.03 với lời đe dọa
trực diện trắng trợn sẽ chiếm nốt tất cả các đảo còn lại ở Trường Sa,
tiến hành tập trận bắn đạn thật trên Biển Đông ở quy mô lớn nhất, nằm
sâu vào vùng biển nước ta 11.000km2 và cách Đà Nẵng 75 hải lý!
Đau quá! Nhục quá! Có lời lẽ nào nói hết được hiểm nguy phía trước đang chờ đợi đất nước!?
Toàn bộ sự vận động nói trên của đất nước trong xu thế phát triển
hiện nay của chế độ toàn trị với ý thức hệ như vậy phải được chấm dứt,
để tìm đường hòa bình cải cách chuyển đất nước đi lên con đường: Giải
phóng nội lực và xây dựng cho đất nước vị thế quốc gia mới. Sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong cục diện quốc tế ngày nay đòi hỏi phải
có đủ sức mạnh nội lực để phát triển và đồng thời để tập hợp được sự hợp
tác và hậu thuẫn rộng rãi trên thế giới. Một sự nghiệp như vậy đòi hỏi
phải có một thế chế chính trị quốc gia mới phù hợp. Cải cách để đổi đời
đất nước trở thành đòi hỏi sinh tử, cả nước phải đứng lên thực hiện.
Cải cách phải là sự nghiệp của toàn dân
Đổi mới từ 1986 bắt nguồn từ phong trào “phá rào” của nhân dân,
trong tình thế đất nước vô cùng hiểm nghèo. Khi trở thành chủ trương của
đảng, đổi mới giành thành tựu ngoạn mục, vì nó giải phóng sức mạnh của
toàn dân – nguyên nhân cốt lõi là thực hiện dân chủ và thừa nhận kinh tế
thị trường.
Qua đổi mới 1986, bộ mặt đất nước bắt đầu có da có thịt, bè bạn ngạc
nhiên và vui mừng, còn mọi kế hoạch thù địch và bao vây cấm vận hiển
nhiên đã thất bại. Sức mạnh và nghị lực sáng tạo của nhân dân là như
vậy. Trong 30 năm sau đổi mới 1986, có thể nói sức mạnh và tiềm năng của
nhân dân – ở đây tôi muốn nhấn mạnh trước hết là vai trò của nông dân
nói riêng và của toàn bộ khu vực kinh tế tư nhân nói chung – luôn luôn
là chỗ dựa vững chắc, thậm chí không hiếm lúc gian nan là chiếc phao cứu
sinh, hoặc là bệ đỡ cho những bước phát triển mới.., của nền kinh tế.
Lùi nữa về quá khứ, sức mạnh toàn dân tộc là yếu tố quyết định làm nên
thắng lợi vẻ vang của 4 cuộc kháng chiến cứu nước vỹ đại.
Truyền thống và sức mạnh nêu trên vừa là yếu tố quyết định thắng lợi,
vừa là đòi hỏi như một điều kiện tiên quyết: Cuộc cải cách vỹ đại đổi
đời đất nước cần phải được tiến hành với tính chất là sự nghiệp của toàn
dân, do toàn dân, và vì toàn dân. Bởi vì đây là cuộc cải cách sâu rộng
làm thay đổi triệt để mọi lĩnh vực của cuộc sống đất nước để trở thành
một quốc gia phát triển, trước hết là thay đổi chính từng người dân từ đây thành người chủ của đất nước. Xin nhấn mạnh như một nguyên lý: Không bao giờ có thể có một nước giầu mạnh của một nhân dân bị nô lệ!
Một đất nước giầu mạnh chỉ có thể được kiến tạo nên bởi một nhân dân
tự do và là người chủ của quốc gia mình. Mục tiêu chiến lược này lẽ ra
đã phải được thực hiện ngay sau 30-04-1975, bây giờ không thể trì hoãn
được nữa. Mục tiêu chiến lược này khi trở thành khát vọng của nhân dân,
đất nước hôm nay sẽ có nguồn lực sáng tạo và sức mạnh bất khả kháng để
phát triển.
Trong chế độ toàn trị, cái gì nhà nước không quản được thì cấm, thần
dân của nó phải chấp nhận và buộc phải quen sống trong cái lồng
quản/cấm này; mấy chục năm quản và cấm như thế chế độ toàn trị đã tạo ra
cho thần dân của nó những tập quán và một văn hóa sống lạc hậu.
Trong chế độ dân chủ của nhà nước pháp quyền, công dân chẳng những
phải tự giác ngộ tất cả về quyền và nghĩa vụ để vươn lên làm người
trưởng thành, để tự quản chính mình, và còn phải làm nhiệm vụ chủ động
tham gia vào đời sống mọi mặt của đất nước với tính cách là chủ nhân của
quốc gia. Hơn thế nữa, mỗi công dân như vậy còn vừa là đối tác của
nhau, vừa là đối tác của cả thế giới, để có khả năng tạo ra cho mình khả
năng hợp tác theo tinh thần đồng đội (teamwork skill), đồng thời cũng
phải có bản lĩnh và khả năng chịu đựng hoặc xử lý được mọi tác động từ
thế giới bên ngoài, chủ động tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế của
đất nước vừa là với tính chất công dân Việt Nam, vừa với tính cách là
công dân thế giới…
Như vậy về tính chất, khả năng và quyền năng của một bên là thần dân
của chế độ toàn trị, và một bên là công dân của chính thể dân chủ pháp
quyền có sự khác nhau một trời một vực. Đây là lý do cơ bản nhất khiến
sự nghiệp cải cách đổi đời con người và đổi đời đất nước sẽ phải bặt đầu
từ học. Toàn dân, bao gồm cả các đảng viên, không phân biệt bất
kể một thứ bậc nào trong xã hội, đều phải học, học lại, giúp nhau học –
để trở thành một công dân tự do của trưởng thành, có trí tuệ, ý chí, bản
lĩnh và khả năng / quyền năng làm chủ chính mình và làm tròn trách
nhiệm người chủ một quốc gia trưởng thành. Sự trưởng thành như thế của
từng công dân trong chính thể mới được phát huy đến đâu, đất nước sẽ
phát triển đi xa tới đấy!
Công dân của chính thể mới nhất thiết phải học để tự tay mình chủ
động và cùng nhau xây dựng nên xã hội dân sự cho chính mình như là một
trường học rèn luyện và phấn đấu để tự khẳng định mình, là môi trường
thực thi trực tiếp quyền và trách nhiệm của mình đối với chính thể và
nghĩa vụ đối với quốc gia, là môi trường quảng bá và vun đắp các giá trị
và truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tiếp thụ những giá trị của văn
minh nhân loại. Vì chính mình và vì đất nước này, cần phải học văn hóa
sống “mỗi người vì mọi người, mọi người vì mỗi người”, “sự phát triển tự
do của mỗi người là điều kiện phát triển tự do của mọi người!”, không
để cho dối trá, mỵ dân, cám dỗ lường gạt, quyết đối mặt với cái ác và
bênh vực lẽ phải, làm cho tổ quốc của chúng ta là nơi đáng sống với tất
cả niềm tự hào chính đáng của mình.
Công dân của chính thể mới cần đặc biệt quan tâm học hỏi và thay đổi
chính mình, để thấu hiểu nỗi đau của đất nước, hiểu những bài học cay
đắng trên chẳng đường đầy máu và nước mắt để đi tới được độc lập thống
nhất hôm nay, qua đó xây dựng cho bản thân mình chính kiến về đường đi
nước bước của đất nước trong thế giới đã thay đổi này. Phải học để hiểu
nỗi nhục của đất nước phải chịu đựng những chén ép và tổn thất do tình
trạng chậm phát triển của quốc gia mình, nên không thể mở mày mở mặt với
thiên hạ, đến mức tổ quốc của chúng ta được thiên hạ tặng cho biệt
danh: quốc gia không chịu phát triển! Nghĩa là mỗi người phải học để nhìn nhận công việc của quốc gia cũng là công việc của chính mình, không thể phó mặc cho ai khác tùy tiện.
Cần phải học nhiều nữa để thấm thía nỗi hèn kém và cả những hư hỏng
của chính bản thân mình và của đất nước, do cái dốt, cái lạc hướng, và
cái khiếp nhược trước quyền uy sinh ra – trong đó cần phải thấy sự hèn
kém này chính là một trong các thành tố tạo nên dinh lũy kiên cố của chế
độ toàn trị hiện nay, những bước bị khuất phục đã xảy ra trước sự bành
trướng và thâm nhập các mặt của Trung Quốc, cũng như thói tự ti và sính
phương Tây, sính theo cái này hay theo cái khác và quên mất chính mình
là ai. Đã xảy ra không hiếm trường hợp hèn kém đến mức đánh mất hoặc để
bị cướp mất tinh thần tự trọng dân tộc và thể diện quốc gia…
Cần phải học bằng được hòa giải dân tộc, để hàn gắn vết thương tay
trái chém tay phải đến hôm nay vẫn còn rỉ máu. Cần phải học bằng được
điều này để làm cho quốc gia đủ mạnh và vững vàng, không để cho bất kể
tình huống nào các mưu đồ hoặc quyền lực đen tối dù từ đâu tới lại có
thể một lần nữa xô đẩy đất nước vào thảm họa nội chiến này. Và trên hết
cả, cần thông qua hòa giải dân tộc, để có được sự cố kết dân tộc làm nên
một quốc gia chẳng những có sức mạnh bất khả kháng với mọi thách thức
từ bên ngoài, mà còn là môi trường nẩy nở các giá trị cao đẹp, là nơi
nuôi dưỡng, làm bệ đỡ, và đồng thời là thành lũy bảo hộ cho mọi nỗ lực
tinh hoa của từng công dân của nó…
Xem như thế, công dân của thể chế chính trị mới phải học rất nhiều,
học tất cả, để phát huy lợi thế nước đi sau qua sự nghiệp cải cách này
xây dựng thành công một thể chế chính trị dân chủ của nhà nước pháp
quyền của Việt Nam, phù hợp cho Việt Nam, nhằm vào mục tiêu xây dựng một
nước Việt Nam độc lập của tự do – dân chủ – hạnh phúc, trên nền tảng
một quốc gia giầu mạnh, công bằng, dân chủ và văn minh, như đã thể hiện
trong Tuyên ngôn Độc lập 02-09-1945 và Hiến pháp 1946.
Có thể nói đây là cải cách của học tập. Học như thế là nội
dung chiều sâu phải thực hiện được trong quá trình cải cách. Vì có con
người như thế, đất nước sẽ có tất cả. Học như thế để dứt khoát không học đòi.
Học để từng công dân trực tiếp tham gia cải cách vì chính mình và vì
đất nước. Vì thế, cải cách như vậy phải là sự nghiệp của toàn dân, với
tính chất là toàn dân giác ngộ trực tiếp tiến hành cuộc cải cách trong
đại này, được khai thông con đường thực hiện đi qua ĐCSVN như đang là đã chuyển đổi thành đảng của dân tộc. III. Cái đích phải tới
Nhiệm vụ có ý nghĩa lịch sử vô cùng trọng đại này của đất nước hôm nay đặt lên vai ĐCSVN và đội ngũ lãnh đạo không phải là đập vỡ “bình” hay sửa “bình”. Cả hai việc này đều không thể, không cần thiết, và đều không phải là giải pháp, thậm chí có thể nguy hiểm cho đất nước.
Nhiệm vụ lịch sử không được phép tránh né của đảng hôm nay là phải cất cái “bình”
hiện nay vào nơi trang trọng nhất có thể trong bảo tàng – phần lịch sử
Việt Nam cận đại, để đánh dấu sự kết thúc con đường đất nước đã đi từ
năm 1930 đến hôm nay, để từ đây thông qua cải cách thể chế chính trị mở
ra một thời kỳ phát triển mới của nước Việt Nam độc lập thống nhất trong
thế giới đã sang trang.
Song ĐCSVN hôm naynhư đang là
không có trí tuệ, phẩm chất và khả năng thực hiện nhiệm vụ lịch sử nó
phải làm nói trên. Và nếu cố tình vẽ ra một nhiệm vụ như thế cho đất
nước thì nó cũng không thực hiện được, nhân dân cũng không tin. 42 năm
độc lập thống nhất đã chứng minh thuyết phục: Ngoài đổi mới 1986 là nỗ
lực của cả nước, ĐCSVN như đang là cho đến
nay chỉ có thất bại trong mọi nỗ lực cải cách, dù đấy chỉ là những cải
cách ở quy mô các vấn đề từng phần hay cục bộ (ví dụ: cải cách giáo dục,
cải cách hành chính, tinh giảm biên chế…). Đơn giản vì bản chất và lợi
ích của ĐCSVN hôm nay đối kháng với cải cách,
do đó nó coi những ý tưởng cải cách là suy thoái đạo đức chính trị tư
tưởng, là tự diễn biến, đặc biệt đố kỵ trong các vấn đề như xóa bỏ “Điều
4”, hòa giải dân tộc, xã hội dân sự… Xin lưu ý: Cải cách đổi đời đất nước mang
tầm vóc và nội dung quan trọng, bao quát toàn bộ đời sống mọi mặt của
đất nước, làm nhiệm vụ thay đổi triệt để toàn bộ hệ thống chính trị –
nhà nước của quốc gia hiện có. Nhưng không được phép để xảy ra tình
huống xuất hiện khoảng trống quyền lực trong khi tiến hành cải cách. Vì
lẽ cốt tử này, cải cách phải được một lực lượng chính trị có ảnh hưởng
chi phối quốc gia thực hiện. So sánh tương quan các lực
lượng chính trị – kinh tế – xã hội ở nước ta trong tình thế cấp bách
hiện nay, một lực lượng chính trị đủ mạnh và có sẵn như thế chỉ có thể
là ĐCSVN đã chuyển đổi thành đảng của dân tộc. Đây cũng là điều lý tưởng
nhất có thể lúc này để tiến hành cải cách trong hòa bình theo tinh thần
khép lại quá khứ và không hồi tố, vì thời gian và nguy cơ không chờ
đợi!
Vậy chỉ còn con đường sống duy nhất: ĐCSVN như đang làphải lột bỏ ý thức hệ và tình trạng thoán quyền, chỉ giữ lại cho mình trách nhiệm ràng buộc với đất nước, tự thay đổi mình trước thành đảng của dân tộc với tinh thần “sống hay là chết!?”, để có phẩm chất và khả năng mới của sự giác ngộ Tổ quốc trên hết, để từ đó mới có thể đề xướng được cải cách, và vận động được cả nước đứng lên thực hiện.
Muốn thế, ĐCSVN như đang là phải làm được 2 việc:
(1)Phải nhận thức được đòi hỏi sống còn đưa quốc gia bước sang thời
kỳ phát triển mới trong một thế giới đã hoàn toàn thay đổi là trách nhiệm ràng buộc của đảng; nếu ĐCSVN hôm nay
từ chối không làm, chống lại, hoặc làm hỏng… đều sẽ đồng nghĩa với phạm
trọng tội chống lại quốc gia, đảng không còn chính danh để tồn tại; nếu
để xảy ra như thế, cái trước sau phải đến không thể tránh được sẽ là:Chế
độ toàn trị sẽ dẫn tới “dân lật thuyền”, hoặc bị tha hóa làm cho sụp
đổ, đất nước lâm vào đại họa, chôn vùi theo toàn bộ sự nghiệp của đảng;
(2)đảng phải quyết tâm thay đổi chính mình trước, phải tin vào nhân
dân, và tự tin chính mình, quyết đi cùng với nhân dân mở ra trang sử mới
đổi đời này của đất nước. Làm được như thế, ngoài cái tha hóa và tham
nhũng thối nát ra, đảng không có gì để mất! Nắm mọi quyền lực trong tay,
đảng đã dẫn dắt đất nước đi vào tình thế đau lòng và hiểm nghèo hôm
nay, đảng phải có trách nhiệm ràng buộc tự lột xác mở lối ra cho đất
nước! Đảng ra đời từ yêu nước, hy sinh cứu nước đã làm nên sự nghiệp của
đảng. Giữ được truyền thống này và có nhân dân, đảng sẽ thực hiện được
sứ mệnh lịch sử mới này.
Như thế, ĐCSVN như đang là cần tự thay đổi mình trước
thành đảng của dân tộc – như cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt cách đây 22 năm
đã chính thức nêu ra với đảng (thư 09-08-1995). Đây là điều kiện tiên
quyết tất yếu. Chỉ trên cơ sở đó, đảng mới có thể đề xướng, có khả năng
và có chính danh để tiến hành cải cách, động viên được sự tham gia của
toàn dân.
Con đường đảng đã thay đổi thành đảng của dân tộc để cùng với toàn
dân tiến hành cải cách đổi đời đất nước, sẽ là con đường tất cả cùng
thắng rất lớn, và không gì có thể ngăn cản được. Tất cả chỉ còn phụ thuộc duy nhất vào việc ĐCSVN như đang là dám vứt bỏ mọi tha hóa và tham nhũng thối nát của mình, dám chặn đứng mọi sự can thiệp vào nội bộ ta từ bên ngoài. Làm được như thế, đảng sẽ tránh được mắc phải trọng
tội phản dân phản nước trước bước ngoặt của lịch sử, trở thành đảng của
dân, của nước và xác lập được cho mình con đường vì dân, vì nước trong
giai đoạn phát triển mới của đất nước, kế thừa được truyền thống cách
mạng vẻ vang cứu nước của các thế hệ đi trước.
Đảng cần nuôi cho mình khát vọng làm được như thế, vì còn gì đáng
sống hơn cho một con người, cho một đảng viên và cho một đảng là trở
thành người đề xướng và chung tay với cả dân tộc mở ra một thời kỳ phát
triển mới của tổ quốc!? Đảng phải làm như thế để không phản bội các bậc
tiền bối của mình! ĐSVN như đang là quyết tự thay đổi mình trước để
làm được như thế, có thể nói sự nghiệp cải cách có ý nghĩa sinh tử này
của đất nước triển vọng thành công mười phần đã đạt được tới tám, chín
phần! Làm được như thế, Việt Nam bước lên con đường phát triển mới trong
thế giới mới hôm nay sẽ là lẽ tự nhiên, tất yếu, và bất khả kháng.
Vẫn cứ phải xin nhắc lại: Nếu đảng quyết không làm như thế, thậm chí
chống lại làm như thế, hoặc sợ không dám làm như thế, sẽ có nghĩa đảng
tự tay xóa bỏ toàn bộ sự nghiệp cách mạng của đảng và chống lại đất
nước. Trong tình hình nghiêm trọng hiện nay, nếu bây giờ lãnh
đạo đảng vẫn quyết như thế, thì nên tuyên bố công khai trước toàn dân,
toàn thể các đảng viên phải bầy tỏ thái độ rõ ràng của mình, các tầng
lớp nhân nên dân huy động trí tuệ của mình để quyết định. Cho
đến nay đảng đã thực hiện nhiều biện pháp chống lại cải cách: Điều 4
Hiến pháp, 19 điều cấm, nghị quyết 244, NQ TƯ 4 (30-10-2016) với 27
“biểu hiện” phải chống (đặc biệt là nhóm 3 – biểu hiện tự diễn biến, tự
chuyển hóa trong nội bộ)… Bây giờ đứng trước bước ngoặt của lịch
sử đất nước, lãnh đạo đảng nhất thiết phải xem lại. Hôm nay phải lột
xác cứu đảng để mở đường cải cách cứu nước còn hơn cả cứu hỏa! Bây giờ
vẫn còn kịp! Nội dung cải cách có thể phác họa một cách tóm lược như sau:
Thứ nhất: Mục đích cuối cùng và cũng là cao nhất cải cách chính trị ở nước ta hôm nay phải đạt được nên là: Từ
hòa giải, đoàn kết và đồng thuận dân tộc quật khởi nên một quốc gia
Việt Nam phát triển của toàn thể cộng đồng dân tộc Việt Nam chúng ta – đúng với tinh thần đã nêu từ Cách Mạng Tháng Tám: “Nước Việt Nam là của người Việt Nam!”, với các tiêu chí Dân chủ, Cộng hòa, Độc lập, Tự do, Hạnh phúc. Thứ hai: Kinh tế thị trường, nhà nước pháp
quyền, xã hội dân sự là 3 trụ cột làm nên quốc gia vững bền, phải được
xây dựng và phát triển từng bước thích hợp trong tổng lộ trình hình
thành nên một nước Việt Nam phát triển, với các tiêu chí như đã nêu
trong điểm thứ nhất. Thứ ba: Thể chế chính trị cần phải
xây dựng là một nhà nước pháp quyền dân chủ, có phân định rạch ròi các
quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp, hoạt động ràng buộc
nhau và kiểm soát lẫn nhau trong khung khổ chung của một Hiến pháp mới;
nhà nước này được xây dựng và hình thành trên những nguyên tắc của bầu
cử dân chủ. Kinh tế thị trường và xã hội dân sự là 2 yếu tố căn bản tạo
dựng nên nhà nước pháp quyền này, vì lẽ này nhà nước pháp quyền dân chủ
tất yếu phải được xây dựng trên nền tảng của thể chế chính trị dân chủ
đa nguyên, được thiết kế theo một hiến pháp mới đúng với tinh thần nhà
nước do dân, của dân, vì dân. Đây phải là cái đích cuối cùng và cao nhất của toàn bộ quá trình cải cách chính trị lần này, được thực hiện dần từng bước
dựa trên mọi thành quả kinh tế – chính trị – xã hội và tiến bộ của quốc
gia đạt được trong suốt quá trình tiến hành cải cách này. Học hỏi là động lực trí tuệ xuyên suốt quá trình này – vì thế tôi gọi đó là thể
chế chính trị đa nguyên của học hỏi, của giác ngộ, của phát triển, bởi
vì nó được xây dựng từng bước và thường xuyên nâng cao theo tiến trình
của giác ngộ và phát triển; nó khác hẳn với đa nguyên của bầy đàn,
vô minh và hỗn loạn. Nói đơn giản: Đó là lấy mở rộng tự do dân chủ tạo
ra giác ngộ của trí tuệ và đồng thuận xã hội làm động lực cho việc tiến
hành cải cách, để từng bước xây dựng nên một thể chế chính trị mới. Vì
thế có thể nói: Cải cách chính trị lần này là tiến hành những cuộc vận
động chính trị lớn và sâu rộng trong toàn xã hội như đã từng làm thời
Cách Mạng Tháng Tám nhằm thay đổi sâu sắc toàn diện đời sống đất nước. Thứ tư: Các quyền tự do, dân chủ của công
dân, quyền sở hữu cá nhân, và các quyền con người phải được thể hiện đầy
đủ và được bảo đảm trong Hiến pháp, đồng thời được phản ánh trong mọi
bộ luật của quốc gia. Những quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp và lập hội, quyền biểu tình, quyền tự do báo chí
phải được xem và thiết kế là những quyền trực tiếp bảo đảm việc thực
hiện các quyền công dân và quyền con người, đồng thời những quyền này
làm nhiệm vụ tạo nền móng cho sự hình thành và hoạt động của xã hội dân
sự, mang lại động lực cho tiến hành cải cách. Quân đội,
công an và các lực lượng chuyên chính khác là công cụ bảo vệ đất nước
và giữ gìn an ninh quốc gia, được xây dựng và hoạt động trong khuôn khổ
hiến pháp và luật pháp quốc gia, chỉ trung thành với quốc gia, với nhân
dân. Thứ năm: Toàn bộ các đảng phái chính trị,
các loại hình hiệp hội cùng các thành viên của nó chỉ được hoạt động
trong khuôn khổ của xã hội dân sự, trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp
luật – bao gồm cả luật/các luật về các đảng phái chính trị, hiệp, hội,
các tổ chức dân sự khác… Tất đều bình đẳng trước pháp luật, tự túc về
tài chính và không được sử dụng tiền thuế của dân.
Một khi những cá nhân của những tổ chức này thông qua bầu cứ dân chủ
theo luật định được cử vào tham gia bộ máy nhà nước thì trở thành đại
diện của các cử tri bầu cho họ, hoạt động theo Hiến pháp, chứ không đại
diện cho các đảng phái hay các tổ chức chính trị xã hội xuất thân của
họ. Khái niệm đảng cầm quyền chỉ thuần túy là tên gọi không hơn không
kém cho đảng phái có nhiều thành viên (thường là chiếm đa số hoặc thông
qua liên minh) tham gia chính quyền. Nghĩa là: Không có các đảng
phái hay các tổ chức chính trị xã hội với tính chất là chính nó trong
bộ máy và hệ thống pháp quyền của nhà nước, đây là đặc chưng cốt lõi
“nhà nước do dân, của dân, vì dân”.
…
Trên đây chỉ là một gợi ý sơ bộ để tham khảo. Tôi tin rằng nếu lãnh
đạo đảng huy động trí tuệ cả nước xây dựng chiến lược cải cách đưa đất
nước đi vào thời kỳ phát triển mới, chắc chắn đất nước sẽ có được một
chiến lược cải cách của toàn dân và nhất định thành công.
Tới đây tôi trân trọng đề nghị: Tổng bí thư Nguyễn Phú
Trọng, với trách nhiệm là người giữ cương vị cao nhất trong đảng, yêu
cầu Bộ Chính trị ra quyết định khép lại quá khứ, đoàn kết toàn Bộ Chính
trị và toàn đảng, huy động toàn đảng và dựa vào trí tuệ của nhân dân cả
nước quyết tiến hành cuộc cải cách chính trị không thể trì hoãn này.
Đảng phải thay đổi thành đảng của dân tộc để có thể dấy lên cuộc cải
cách của toàn dân cứu nước và đổi đời đất nước! Đây cũng là con đường
cứu đảng thành đảng của dân tộc, mãi mãi đi với dân tộc. Thời gian không
chờ đợi. Mọi thách thức trong/ngoài đang uy hiếp đất nước không biết
chờ đợi!
Trước những thách thức nghiêm trọng của quốc gia, tôi cầu mong cả
nước – đặc biệt là những đảng viên muốn cứu đảng để cứu nước – hãy lên
tiếng về vận mệnh đất nước, cùng nhau làm tất cả mọi việc vì đất nước
với sự giác ngộ cao nhất về cuộc cải cách phải tiến hành này!
Xin đọc tiếp 3 phục lục kèm theo Phụ lục I Về con đường cải cách đi qua ĐCSVN đã thay đổi trở thành đảng của dân tộc Nguyễn Trung
Thực trạng hiện nay là:
Đảng như đang là ngày càng không có dân đi với
mình và ngày càng bất cập do tha hóa và do nhiệm vụ đất nước đặt ra cho
đảng ngày càng vượt tầm, khiến đảng ngày càng bị thách thức, càng phải
trấn áp để giữ chế độ toàn trị;
trong xã hội dân sự hiện nay dân tình ngày càng bức xúc và
không có đường lùi; dân hiện nay tuy chưa đủ sức lật thuyền xóa bỏ đảng,
nhưng tình hình ngày càng đến gần tức nước vỡ bờ, cùng tắc biến;
tình hình từ hai, ba khóa đại hội nay cho thấy mâu thuẫn
giữa một bên đảng một bên dân nói trên gây ra nhiều xung đột ngày càng
lớn và quyết liệt, hoặc ngầm ngầm, hoặc bùng nổ công khai. Tình trạng bế
tắc này tự nó đang hấp dẫn ngày càng mạnh mẽ những bi kịch tồi tệ nhất
đến với đất nước, với mọi kết cục thê thảm có thể.
Trong những bi kịch có thể xảy ra này, bạo loạn lật đổ, hoặc chế độ
tự sụp đổ là nguy hiểm nhất, sẽ có thể mang lại cho đất nước đau khổ và
tổn thất lớn nhất. Bởi vì sự phá hủy này nếu xảy ra sẽ chỉ đem lại điêu
tàn cho đất nước. Trong cái bầu không khí chiến tranh lạnh muốn ăn thịt
người trên thế giới hiện nay, nhất là Việt Nam lại nằm ở vị trị địa đầu
trong khu vực, sẽ không sao đoán trước được cái gì sẽ xảy ra cho nước ta
tiếp theo sự phá hủy này! Điều chắc chắn: Quốc gia bạo loạn, nạn “đục
nước béo cò” dù là cò “nội” hay cò “ngoại” sẽ tìm đến như kền kền tìm
xác thối! Mong đừng ai mù quáng tưởng rằng đấy sẽ là “sự phá hủy sáng
tạo” của Schumpeter! Chỉ cần xem ai là người khích cho nước ta phải rối
ren hơn nữa, sẽ thấy ngay sự phá hủy này có thể mang lại cho đất nước
những gì. Song giữ nguyên trạng chế độ toàn trị ngày càng ruỗng nát thế
này, trước sau cũng tất yếu dẫn tới bạo loạn!
Hai năm khóa đại hội XII cho thấy: Mọi nỗ lực rất quyết liệt và chật
vật nhằm cứu vãn tình hình cho đến nay của đảng và của chế độ toàn trị
trong mọi lĩnh vực cuộc sống đất nước chỉ là “bịt lỗ hà, ra lỗ hổng”, hoặc là “giật gấu vá vai”.
Hệ thống kinh tế và hệ thống chính trị – xã hội của đất nước dù có vắng
bớt được đôi ba bộ mặt tham nhũng xấu xí; song chồng chéo, manh mún, ăn
bám, tham nhũng, và mục ruỗng của hệ thống trước sau vẫn nguyên vẹn.
Nghĩa là: (a) cỗ máy sản sinh ra mọi tội lỗi của chế độ toàn trị, và (b)
hiện trạng nguy hiểm của đất nước đều còn nguyên vẹn, và tình hình mọi
mặt đang ngày càng rối thêm. Đất nước đang èo uột tiếp để chịu bó tay
làm mồi cho mọi ý đồ xấu xa phía trước. Trong khi đó thời gian và mọi
thách thức trong / ngoài không biết chờ đợi. Khoanh tay bất lực ngồi
yên, hay cứ loay hoay mãi ngứa đâu gãi đấy, cháy đâu chữa đấy như đang
làm, đều đồng nghĩa với tự sát. Phải nhìn thẳng vào sự thật này để không
lạc hướng trong lúc tìm lối ra cho đất nước: Lột xác cứu đảng để cải cách mở đường cứu nước – lẽ ra đây phải là nội dung duy nhất của Đại hội XII! Chỉ có con đường sống: Đảng phải thay đổi chính mình thành
đảng của dân tộc, còn dân quyết đi cùng với đảng đã thay đổi, để cùng
sống, sống được, trên hết là để có thể cùng nhau thực hiện cải cách cứu
mình và cứu nước, và mở ra cho đất nước thời kỳ phát triển mới.
Lý tưởng nhất, con đường này sẽ là: Bộ Chính trị huy động trí
tuệ cả nước và trong Đảng, vận dụng những kinh nghiệm thành / bại trên
con đường phát triển của chính nước ta và các nước khác trên thế giới
xây dựng nên chiến lược cải cách của ta, sau đó làm cho chiến lược cải
cách trở thành nghị quyết của toàn Đảng – bắt đầu là của Ban chấp hành
Trung ương Đảng. Sau cùng là việc thay đổi đảng thành đảng của dân tộc
và thực hiện cải cách trở thành nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc.
Thực hiện nghị quyết đại hội, đảng – thông qua đảng viên và các tổ
chức cơ sở của mình – làm nhiệm vụ hạt nhân lãnh đạo và đồng thời là lực
lượng nòng cốt vận động nhân dân cả nước tiến hành cuộc cải cách này theo kế hoạch và các bước đã thiết kế được, với tổng lộ trình gồm 2 phần trước sau dưới đây:
(A)Đảng tiến hành thay đổi chính mình trước trở thành một đảng mới: đảng của dân tộc; sau đó
(B)Triển khai trong cả nước chiến lược cải cách của đảng mới.
Đại thể cải cách có thể chia thành 3 giai đoạn sau đây: Giai đoạn I Hoàn thành phần A của tổng lộ trình,
làm xong việc chuyển đổi thành đảng mới với cương lĩnh mới, điều lệ mới,
tiến hành tổ chức lai đảng theo tinh thần lấy xã hội dân sự làm môi
trưởng rèn luyện, phấn đấu và hoạt động của đảng, với mục tiêu trở thành
lực lượng chính trị mạnh nhất và có tính tiền phong chiến đấu cao trong
xã hội dân sự. Đảng mới sẽ tiến hành mọi hoạt đông thực hiện các nhiệm
vụ của mình theo tinh thần “Điều 4” của Hiến pháp hiện hành không còn
tồn tại nữa trong thực tế (vì lúc này chưa có Hiến pháp mới). Có những
điểm nổi bật sau đấy:
Cương lĩnh mới của ĐCSVN đã chuyển hóa thành đảng yêu nước của dân
tộc và dân chủ – nên lấy lại tên cũ là Đảng Lao động Việt Nam, gồm 3
phần chính (a)khẳng định mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam phát triển
theo con đường dân tộc và dân chủ, hòa nhập cộng đồng thế giới vì hòa
bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, phấn đấu giành vị thế xứng đáng
trong kinh tế thế giới toàn câu hóa ở giai đoạn hiên nay; (b)xây dựng
một thể chế chính trị / nhà nước dân tộc và dân chủ của hòa giải và đoàn
kết dân tộc dựa trên kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền, xã hội
dân sự, bảo đảm thực hiện quyền làm chủ đất nước của nhân dân; (c)chuyển
đổi và xây dựng ĐCSVN hiện nay thành đảng yêu nước của dân tộc và dân
chủ trên cơ sở gìn gữ và phát huy truyền thống dựng nước và giữ nước, sự
nghiệp giành độc lập thống nhất, các giá trị của dân tộc và của văn
minh nhân loại, nguyện phấn đấu đi tiên phong trong hàng ngũ dân tộc vì
sự nghiệp xây dựng nước Việt Nam độc lập, thống nhất, hòa bình, dân chủ,
giầu mạnh, công bằng, văn minh.
Điều lệ đảng mới bảo đảm cho đảng viên và toàn đảng được tổ chức và
xây dựng phù hợp tình hình và nhiệm vụ mới của đất nước, đòi hỏi đảng
viên thông qua học tập nâng cao kiến thức và giác ngộ chính trị để có
năng lực và phẩm chất lấy xã hội dân sự làm môi trường phấn đấu; gương
mẫu mọi mặt để có thể trở thành hạt nhân lãnh đạo trong mọi hoạt động
của xã hội dân sự, qua đó phát huy ý chí, nội lực và sự sáng tạo của mọi
tầng lớp nhân dân thực hiện các nhiệm vụ cải cách đòi hỏi; khơi dậy mọi
sáng kiến và phong trào của nhân dân trong xã hội dân sự, đi tiên phong
xây dựng những phong trào vận động lớn của toàn quốc hoặc từng vùng
miền, từng lĩnh vực để giải quyết những vấn đề trọng đại trong kinh tế,
chính trị, văn hóa, xã hội; đẩy mạnh cải cách giáo dục, xây dựng nếp
sống mới tôn trọng luật pháp và các quyền của công dân, quyền con người;
tạo ra những chuyển biến mới mọi mặt của đất nước, thực hiện những kế
hoạch phát triển, tạo công ăn việc làm mới, tăng cường khả năng cạnh
tranh của sản phẩm Việt Nam, gìn giữ môi trường tự nhiên, tranh thủ đầu
tư nước ngoài và hợp tác quốc tế. Xây dựng mới phù hợp với hiến pháp và
pháp luật mới (sẽ phải có) những tiêu chuẩn của đảng viên và tổ chức
đảng các cấp phù hợp với thể chế chính trị dân chủ pháp quyền và khả
năng hoạt động của đảng / các tổ chức cơ sở đảng trong xã hội dân sự để
trở thành lực lượng chính trị có khả năng đi tiên phong trong mọi tiến
bộ của đất nước; lấy thúc đẩy những thành quả đạt được trong vận động xã
hội dân sự thành những động lực bên cạnh những động lực kinh tế – chính
trị – xã hội khác góp phần thúc đẩy sự phát triển và những tiến bộ mới
của đất nước; cho ra khỏi đảng những đảng viên không muốn hoặc không đủ
điều kiện là đảng viên của đảng mới, đẩy mạnh kết nạp đảng viên mới –
trước hết là trong đối tượng thanh niên, học sinh, sinh viên, trí thức,
doanh nhân giỏi.., nhằm mang lại cho đảng năng lực và sức sống mới, dứt
khoát vứt bỏ chủ nghĩa lý lịch và chủ nghĩa thành phần và hậu duệ. Qua
thực tiễn phấn đấu này rèn luyện đảng trở thành lực lượng chính trị nòng
cốt và đội ngũ tiên phong của một nước Việt Nam mới: Đảng theo đuổi
những giá trị của dân tộc và dân chủ, những tiến bộ mới của trí tuệ và
văn minh nhân loại.
Xin đặc biệt lưu ý về đảng: Đối tượng vận động của đảng chính trị luôn luôn là nhân dân. Quan điểm đúng đắn này đã được nhấn mạnh: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng
(nói đúng hơn: Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân). Trung thành với
quan điểm này, đảng đã làm nên thắng lợi của 4 cuộc kháng chiến vỹ đại. Ngày nay, cải cách là để xây dựng quốc gia độc lập có chủ
quyền của thể chế chính trị pháp quyền dân chủ, trong đó nhân dân là chủ
đất nước với tính cách là công dân trong xã hội dân sự. Vì thế trong
cải cách đổi đời đất nước, Cương lĩnh và Điều lệ mới của đảng (đã thay
đổi trở thành đảng của dân tộc) cần làm rõ nhiệm vụ của đảng và đảng
viên là phải có phẩm chất, năng lực, xác định mục tiêu phấn đấu là lấy
xây dựng và phát triển xã hội dân sự làm môi trường nuôi dưỡng và phát
huy sự trưởng thành, quyền năng và sức mạnh của công dân, coi đây là mặt
trận chính trị số một của đảng để thực hiện hòa giải, đoàn kết và phát
huy sức mạnh toàn dân tộc cho nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong
thế giới hôm nay. Đây là nhiệm vụ cơ bản hàng đầu của một đảng
lãnh đạo trong thời kỳ phát triển mới của đất nước, khác hẳn với thời kỳ
làm nhiệm vụ cách mạng giành độc lập và kháng chiến cứu nước! Đặc điểm mới này quyết định bản chất hoàn toàn mới của đảng, đồng thời đòi hỏi phải có đường lối mới và tổ chức mới của đảng mà cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã đề cập tới (thư 09-08-1995). Nhiệm vụ đổi mới ĐCSVN như đang là
thành đảng của dân tộc trước hết là hiểu theo tinh thần này. Chủ động
xây dựng và phát triển xã hội dân sự như thế là môi trường rèn luyện
phẩm chất của tính chiến đấu và tính tiền phong của đảng, đồng thời là
bí quyết để phấn đấu giành về cho đảng vai trò lãnh đạo trong thể chế
chính trị dân chủ đa nguyên. Đây là những đòi hỏi rất cao về trí tuệ,
bản lĩnh và các phẩm chất thuộc các phạm trù đạo đức và giá trị. Tất
cả nói lên ĐCSVN như đang là phải thay đổi
hoàn toàn về bản chất, đúng với quy luật: nhiệm vụ mới của đất nước đòi
hỏi phải có đảng chất lượng mới, nếu không muốn bị loại bỏ. Có thể tổng kết: Trước 30-04-1975 là giai đoạn làm nhiệm vụ cách mạng để giành độc lập thống nhất, sau 30-04-1975 là làm nhiệm vụ phát triển để xây dựng và bảo vệ tổ quốc; vì không nhận thức được sự khác nhau của 2 nhiệm vụ chính trị là cách mạng và phát triển như thế để thay đổi, nên 42 năm qua từ đảng lãnh đạo đảng đã biến chất thành đảng cai trị, không oan uổng!
Ra Tuyên bố của ĐCSVN chuyển đổi thành đảng yêu nước của dân tộc và
dân chủ (nên đổi tên là Đảng Lao Động Việt Nam – “ĐLĐVN”), tuyên bố
trước quốc dân đồng bào và toàn thế giới quyết định đổi mới thành đảng
yêu nước của dân tộc và dân chủ (“ĐLĐVN”), làm rõ đất nước đã hoàn thành
một giai đoạn phát triển, ngày nay phải chuyển sang một giai đoạn mới
để trở thành một nước phát triển trong một thế giới đã sang trang đi vào
thời kỳ của một cục diện quốc tế mới. Khẳng định mục tiêu chiến lược
của đảng mới là kế tục mọi thành tựu đất nước đã giành được đến nay để
đưa đất nước lên con đường trở thành nước phát triển của một thể chế
chính trị / nhà nước dân tộc và dân chủ dựa tên kinh tế thị trường – nhà
nước pháp quyền – xã hội dân sự, nhằm xây dựng một nước Việt Nam hòa
bình, độc lập thống nhất, dân chủ và giầu mạnh; lấy hòa giải đoàn kết
dân tộc và phát huy các giá trị truyền thống của dân tộc và của văn minh
nhân loại làm động lực thực hiện mục tiêu trọng đại này; kêu gọi toàn
dân nỗ lực chung vai sát cánh với đảng thực hiện, đảng nguyện trung
thành với lợi ich của nhân dân và của đất nước, phấn đấu trở thành chỗ
dựa tin cậy và là lực lượng nòng cốt của cả nước trong thực hiện cuôc
cải cách đổi đời đất nước cũng như trên con đường đưa đất nước trở thành
nước phát triển theo kịp tiến bộ của nhân loại.
Đảng ra tuyên bố trước toàn thế giới về quyết định thực hiện cuộc cải cách trọng đại này, khẳng
định xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập thống nhất, dân chủ
và giầu mạnh, vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển trong quan hệ
với moi quốc gia và với các tổ chức quốc tế và khu vực; lấy
phát huy hòa giải đoàn kết dân tộc, các giá trị của dân tộc, tự do, dân
chủ, bảo vệ và phát huy các quyền con người và bảo vệ môi trường làm
động lực xây dựng và bảo vệ đất nước. Việt Nam khẳng định theo đuổi
đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, tôn trọng luật pháp quốc tế, làm
tròn trách nhiệm của thành viên Liên hiệp quốc; Việt Nam kêu gọi mọi
quốc gia và mọi tổ chức quốc tế và khu vực chủ động góp phần mình gìn
giữ hòa bình, bảo vệ tự do lưu thông hàng hải, và giải quyết hòa bình
mọi tranh chấp có liên quan đến vấn đề chủ nguyền trên trong Biển Đông
theo tinh thần UNCLOS 1982 và luật pháp quốc tế, cùng chung sức phát huy
vai trò của ASEAN xây dựng Đông Nam Á thành khu vực của hòa bình, hợp
tác và phát triển, qua đó góp phần vào hòa bình và sự thịnh vượng chung
của thế giới. Trong trường hợp Việt Nam bị xâm lược, Việt Nam quyết tâm
bảo vệ độc lập chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ của mình, đồng thời
giành cho mình quyền kêu gọi sự giúp đỡ của cộng đồng thế giới. Nói thì
ngắn gọn như vậy, song nội dung là quyết xây dựng đối nội và theo đuổi
một đường lối đối ngoại dấn thân, để tạo ra vị thế quốc gia mới cho đất nước.
Ngay sau khi ra 2 tuyên bố nói trên, trả lại tự do cho tất cả những
người bị tù vì bất đồng chính kiến với chế độ chinh trị, khuyến khích và
tạo mọi điều kiện cho họ đem hết sức mình tham gia cuộc cải cách vỹ đại
của đất nước; đồng thời tiến hành cuộc vận động lớn trong cả nước thực
hiện hòa giải và đoàn kết dân tộc, tạo ra sự đồng thuận của toàn dân tộc
tiến hành thắng lợi cuộc cải cách đổi đời đất nước.
Trong giai đoạn I này, như một khởi động đầu tiên của toàn hệ thống
chính trị – xã hội cả nước, đảng tiến hành ngay cuộc vận động lớn trong
cả nước thực hiện tiết kiệm triệt để chi tiêu – trước hết gương mẫu cắt
giảm mọi chi tiêu có thể cho đảng và trong đảng, để cứu nguy thâm hụt
ngân sách quốc gia, dồn mọi nguồn lực cho yêu cầu phát triển của kinh
tế. Qua cuộc vận động này xây dựng và hình thành một phong cách làm ăn trung thực, hiệu quả, tiết kiệm trong cả nước.
Từ đó xây dựng những chuẩn mực đạo đức và chính trị đầu tiên của quốc
gia cần xác lập cho toàn bộ sự nghiệp đưa đất nước trở thành nước phát
triển. Tạo dựng được phong trào mở đầu nhưng rất quan trọng này, hy vọng
những giá trị tốt đẹp sẽ được củng cố và có sức sống mới, đồng thời đất
nước sẽ nảy nở những tinh hoa và trí tuệ mới. Đây có thể là cái đà đầu
tiên vận động toàn bộ quá trình cải cách và xây dựng đất nước.
Tóm lại, giai đọạn I thực hiện xong nhiệm vụ đảng tự thay đổi và cải
cách đảng trước về đường lối, về tổ chức và về phương thức hoạt động, để
có khả năng xây dựng xong và triển khai chiến lược cải cách &
phương thức / kế hoạch thực thi trong cả nước. Trên cơ sở tự cải cách
chính mình trước như vậy, đảng chủ xướng và dẫn dắt cả nước thực hiện
cuộc cải cách trọng đại này.
Ngay lập tức (nghĩa là trong khi chưa có Hiến pháp mới) đảng chuyển
sang hoạt động theo phương thức của đảng cầm quyền trong một thể chế
chính trị pháp quyền dân chủ (trước hết với tinh thần trên thực tế coi
như không còn “Điều 4”), lấy xã hội dân sự làm địa bàn hoạt động chủ
yếu, thực hiện những sửa đổi / cải cách bước đầu cần thiết hệ thống hành
chính quốc gia để bảo đảm yêu cầu xúc tiến cải cách, duy trì đươc sự
vận hành liên tục của mọi lĩnh vực trong cuộc sống trong suốt thời gian
tiến hành cải cách, không để xảy ra khoảng trống quyền lực. Giai đoạn II
Thực hiện tiếp những bước cải cách cụ thể đã đề ra trên cơ sở về cơ
bản giữ bộ khung cũ của toàn bộ hệ thống hành chính sự nghiệp với những
thay đổi cần thiết về tổ chức, cơ chế hoạt động, nhân sự, song song với
thi hành những chính sách mới hoặc những quy định mới đúng với tinh thần
và nội dung của cải cách. Đặc biệt chú trọng xây dựng và thực hiện ngay
những luật cơ bản (có thể là những Luật tạm thời trước khi có Hiến pháp
mới) về tự do báo chí, tự do thành lập hiệp hội, về quyền biểu tình, về
quyền thể hiện ý chí của nhân dân, về quyền con người, bảo đảm thực
hiện công khai minh bạch và trách nhiệm giải trình.., qua đó tạo ra động
lực quyết định xúc tiến cải cách. Tất cả những hoạt động này dựa trên
nền tảng nâng cao dân trí và tinh thần thượng tôn pháp luật, hòa giải và
đoàn kết của nhân dân cũng như của hệ thống chính trị / nhà nước… Tất
cả những bước đi mới này nhằm phát huy mọi động lực toàn xã hội thúc đẩy
tiến trình cải cách diễn ra năng động và hiệu quả, giảm thiểu ở mức có
thể nhất mọi xung đột hay tổn thất không đáng có, kết hợp với xây dựng
và thực hiện nếp sống văn minh, gìn giữ và phát huy những giá trị đạo
đức xã hội.
Xây dựng những chính sách và chủ trương thực hiện mới để thực hiện
song song các nhiệm vụ phát triển kinh tế, giải quyết những nhiệm vụ
chính trị / văn hóa / xã hội phải tiến hành, thực hiện những bước cải
cách giáo dục ở giai đoạn này phù hợp với tiến trình của cải cách. Đây
vừa là những nhiệm vụ phát triển cụ thể phải thực hiện song song với
tiến trình cải cách, đồng thời tạo tiền đề tiến hành thay đổi / xây dựng
các bộ luật mới.
Bàn hành dự thảo hiến pháp mới huy động toàn dân tham gia xây dựng.
Ban hành dự thảo và thông qua Luật về các đảng phái chính trị và các
tổ chức đoàn thể xã hội để xây dựng thành bộ luật chính thức sau này
làm cơ sở pháp lý cho hoạt động của mọi đảng phái chính trị và đoàn thể
xã hội. Bộ Luật này bảo đảm các đàng phái chính trị và đoàn thể xã hội
bình đẳng trước pháp luật, tự chủ về tài chính, không được sử dụng thuế
và ngân sách của nhà nước, lấy xã hội dân sự làm môi trường phát triển
và hoạt động của mình, đồng thời góp phần bảo đảm trong hệ thống chính
trị / nhà nước và bộ máy vận hành của quốc gia chỉ có Hiến pháp và luật
pháp quyết định tất cả.
Giai đoạn III
Thông qua Hiến pháp mới, đồng thời
thực hiện tiếp mọi bước đi của cải cách trong giai đoạn này, xây dựng /
hoàn thiện những luật pháp và thể chế kinh tế theo Hiến pháp và hệ thống
pháp luật mới. Thành tựu phát triển kinh tế và sự ra đời của thể chế
chính trị / nhà nước mới theo Hiến pháp mới là thước đo nội dung và quá
trình tiến triển của cải cách ở giai đoạn này.
Nên tham khảo mô hình thế chế chính trị / nhà nước và bộ máy hành
chính sự nghiệp của Singapore, Nhật và Hàn Quốc để vận dụng vào nước ta
theo tinh thần của Tuyên ngôn Độc lập 02-09-1945, Hiến pháp 1946 và cách
tổ chức quốc hội 1946, được bổ sung những nét cập nhật phù hợp với đòi
hỏi của đất nước và bối cảnh quốc tế hiện tại. Nét đặc trưng chung của 3
mô hình này (Singapore, Nhật, Hàn Quốc) là tính tập trung để tạo ra khả
năng quyết đoán cao, đồng thời bảo đảm được dân chủ, tính công khai
minh bách và trách nhiệm giải trình.
Trên cơ sở những bước tiến mới nói trên, tiến hành xây dựng một thể
chế chính trị / nhà nước đa nguyên, hình thành một số đảng chính trị mới
theo Hiến pháp mới và Luật về đảng phái chính trị và các tổ chức xã hội
dân sự như đã được thông qua ở giai đoạn II.
Nên xây dựng các lý lẽ thuyết phục, và được bảo đảm bằng bộ luật về
các đảng phái chính trị và đoàn thể nói trên được thiết kế phù hợp, để
hình thành thêm các đảng chính trị mới có thể tham chính thông qua Luật
bầu cử dân chủ tự do và theo quy định của Hiến pháp.
Ở nước ta, hợp lý nhất có lẽ chỉ nên hình thành thêm 2 đảng tham
chính mới như đã từng có trong thời đầu của nước VNDCCH – đó là đảng Dân
Chủ và Đảng Xã hội – song phải là 2 đảng có thực quyền và bình đẳng
trước pháp luật như mọi đảng khác theo Luật. Nếu có nhiều đảng nữa sẽ
rối và không cần thiết. Hiến pháp và các bộ Luật liên quan cần được
thiết kế sao cho bảo đảm nghiêm túc yêu cầu: thực hiện đa nguyên, nhưng
bảo đảm không quá 3 đảng tham chính trong tranh cử và bầu cử; thủ lĩnh
của đảng có đa số ghế lớn nhất trong Quốc hội sẽ là tổng thống với chức
năng là người đại diện quốc gia cao nhất và có quyền lực cao nhất cả
nước; thủ tướng là người trực tiếp điều hành nội các (chính phủ) do tổng
thống bổ nhiệm và được quốc hội chấp thuận; với điều kiện của nước ta,
nên thực hiện chế độ 1 viện duy nhất là quốc hội; tuy nhiên nên thực
hiện chế độ bầu cử từng phần so le để bảo đảm sự hoạt động liên tục của
quốc hội (không bị gián đoạn qua mỗi kỳ bầu cử). Tiến hành bầu cử thành
lập hệ thống nhà nước theo Hiến pháp mới, nên mời sự giám sát quốc tế
cuộc bầu cử để nâng cao uy tín của chính thể mới, đồng thời tranh thủ sự
ủng hộ / hậu thuẫn của cộng đồng quốc tế.
Nên chuẩn bị sớm một chiến lược cải cách như trên để được thông qua
sớm nhất có thể tại một đại hội đảng toàn quốc bất thường, sau đó triển
khai thực hiện. Nhưng ngay sau khi Bộ Chính trị đã đi tới được quyết
định phải tiến hành cải cách, Bộ Chính trị nên có ngay một tuyên bố
trình bầy rõ quyết định chiến lược này, kêu gọi cả nước và toàn đảng
đoàn kết và phát huy tinh thần yêu nước đem hết tâm huyết tham gia sự
nghiệp cách bằng mọi hành động và việc làm thiết thực, dấy lên trong cả
nước một hào khí mới, làm cho nhân dân và từng đảng viên ngay từ ngày
đầu tiên cảm nhận được sự nghiệp cải cách này là trách nhiệm của chính
mình, chủ động làm mọi việc có thể góp phần tham gia của mình.
Trong quá trình chuẩn bị Đại hội XII tôi đã kiến nghị thành lập nhóm
ad hoc gồm các đồng chí Bùi Quang Vinh, Vũ Đức Đam và Phạm Bình Minh
giúp đảng xây dựng nội dung Đại hội theo hướng xúc tiến cải cách nói
trên. Nay tôi xin đề nghị một lần nữa: Bộ Chính trị nên quyết định lập
sớm một nhóm như thế giúp đảng bắt tay ngay vào việc chuẩn bị và xây
dựng chiến lược cải cách.
Trên đây chỉ là những gợi ý thô sơ ban đầu để tham khảo./. Phụ lục II Về chủ nghĩa Mác – Lênin
Nguyễn Trung
Muốn tiến hành cải cách chính trị, đảng phải chủ động loại bỏ “chủ nghĩa Mác – Lênin” và ý thức hệ đi kèm. Bởi các lẽ:
Đảng phải từ bỏ ý thức hệ lỗi thời để thay đổi chính mình thành đảng yêu nước của dân tộc và dân chủ.
Giai đoạn phát triển mới của đất nước đòi hỏi đảng phải có một thế
giới quan mới xác lập được con đường phát triển theo các giá trị của dân tộc và dân chủ, giành được vị thế quốc gia mới trong thế giới hôm nay.
Chứng minh trước nhân dân và tranh thủ được lòng tin của nhân dân là
đảng đã trở thành một đảng mới của dân tộc và dân chủ mà sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ đất nước trong thế giới hôm nay đòi hỏi.
Nên có những công trình nghiên cứu khoa học và nghiêm túc giải quyết
thấu đáo, thuyết phục nhiệm vụ khó khăn này để giải phóng tư duy theo
tinh thần loại bỏ những cái sai và lỗi thời, gìn giữ những giá trị đúng
đắn, hướng về những giá trị mới mà thực tế khách quan của sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ đất nước đòi hỏi.
Trong khuôn khổ tâm sự và trao đổi, chỉ xin nêu ra một số suy nghĩ ban đầu dưới đây.
Trước hết xin nói ngay: Cả Mác và Lênin đều không sáng lập ra chủ nghĩa này – nó không tồn tại.
Chính bản thân Mác – và cả Ăng-ghen – đều cho tác phẩm trí tuệ của
mình là lý luận mang tính giải thích và thúc đẩy sự phát triển của cuộc
sống. Mác và Ăngghen suốt cuộc đời mình đã nhiều lần tiếp tục điều chỉnh
những chỗ sai, có nhiều sửa đổi quan trọng, bám vào thực tiễn và sự vận
động của lịch sử để tiếp tục phát triển lý luận của mình. Tới nay đã có
thể lọc ra khoảng 9 – 10 lần Mác và Ăngghen đã có những thay đổi như
thế. Cả Mác và Ăngghen đều coi lý luận của mình là mở, đòi hỏi vận dụng
sáng tạo bám sát cuộc sống chứ không giáo điều, không bao giờ coi nó là
học thuyết hay chủ nghĩa mang tính khuôn sáo, áp đặt.
Còn Lênin cũng chưa từng đưa lý luận Mác lên thành một thứ chủ nghĩa,
cũng chưa hình thành được chủ nghĩa riêng của Lênin, vì bản thân Lênin
còn đang viết NEP (the New Economy Policy – Chính sách kinh tế mới,
1924) dở dang thì qua đời. Trước khi soạn thảo NEP, điều bổ xung của
Lênin vào học thuyết Mác là quan điểm “chuyên chính vô sản”. Song trong
quá trình viết NEP chính Lênin không nhắc tới hoặc đã thay đổi quan điểm
này. Thực tế cũng đã chứng minh CCVS là sai lầm.
CNML như được nói tới, được hiểu và dạy, được thực hành trong ĐCSVN
và ở nước ta cho đến hôm nay được lấy ra từ các phiên bản “Liên Xô” và
“Trung Quốc” (nghĩa là không phải từ gốc), có đôi chút biến báo vì lý do
phiên dịch hoặc vì theo cách hiểu của Việt Nam, vừa có nhiều cái sai so
với những điều Mác viết ra, vừa đã tự chứng minh là sai trong thực tiễn
Việt Nam 42 năm nay.
Sự thật là CNML được các lãnh tụ của phong trào cộng sản (Stalin,
khoảng năm 1927, một số nhân vật khác…) chắt lọc chủ yếu từ Tuyên ngôn
Cộng sản, rồi dựng lên thành một chủ nghĩa, một học thuyết nhằm xác lập
vai trò độc tôn lãnh đạo cách mạng (trước hết lúc đó là của Liên Xô) và
sự tồn tại của ĐCS với tính cách là một đảng độc tôn như thế, và để chi
phối mọi tư duy và hành động của toàn xã hội theo quan điểm của ĐCS. Nội
dung cốt lõi là xóa bỏ tư hữu tư liệu sản xuất, thiết lập chuyên chính
vô sản, coi đấu tranh giai cấp là động lực của phát triển.
Ngoài ý nghĩa là một cẩm nang của cách mạng xã hội chủ nghĩa, CNML
như vậy có thể được xem như sự khẳng định vai trò lãnh đạo tư duy của LX
(và phần nào cả tôn sùng cá nhân Stalin, sau này Khru-sốp đã bác bỏ,
nhưng ở ta lại phê phán Khru-sốp là xét lại) trong phong trào cộng sản
và công nhân quốc tế.
Mác viết Tuyên ngôn Cộng sản năm 30 tuổi (1848), và hầu như đây là
tác phẩm duy nhất Mác đề cập đến chủ nghĩa cộng sản một cách đầy đủ nhất
với tính cách là một hình thái xã hội mới tất yếu sau chủ nghĩa tư bản.
Song trong toàn bộ cuộc đời còn lại sau đó, Mác hầu như bỏ không theo
cách tiếp cận như vậy nữa, mà đi sâu vào bản chất sự vận động và phát
triển của chủ nghĩa tư bản đương thời. Dù không kiên định, song đã có
lúc Mác thừa nhận không thể làm thầy bói cho lịch sử như các dự báo của
mình, cho rằng lịch sử chỉ chấp nhận may đo, chứ không thể ốp may sẵn
(Việt Phương). Mác đã hoàn thành “Tư bản” tập I, sau đó Ăngghen từ
những phần việc dở dang của Mác hoàn thành tiếp “Tư bản” II và III,
trong đó hầu như không nói tới chủ nghĩa cộng sản nữa. Đáng chú ý là:
sau này Mác, song rõ nhất là Ăngghen nhân dịp 25 năm TNCS, đều coi TNCS
chỉ có giá trị lịch sử, cuộc sống hoàn toàn không diễn ra như đã viết
trong TNCS. Một số quan điểm quan trọng khác của Marx về đấu tranh giai
cấp, về quy luật bóc lột giá trị thặng dư, về quy luật tiến hóa của lịch
sử… cũng cho thấy nhiều chỗ không đúng và càng không theo kịp cuộc sống
ngày nay… Trong khi đó những phân tích của Marx về chủ nghĩa tư bản cho
đến hôm nay vẫn có nhiều giá trị thời sự[1].
Một vấn đề vô cùng hệ trọng liên quan đến vấn đề đang bàn: Từ 6 – 7
thập kỷ nay nhiều công trình nghiên cứu khoa học và nhiều học giả có uy
tín trên thế giới đánh giá thống nhất: chế độ của Hítle, Stalin và Mao
có 3 đặc điểm giống nhau:
(1)thực hiện chủ nghĩa tư bản nhà nước – dù tên gọi của nó là gì,
(2)tẩy não (chỉnh huấn, học tập, cải tạo…) để mọi người phải trung thành với chế độ,
(3)biến con người thành công cụ với đòi hỏi phải phục vụ tuyệt đối chế độ (thông qua hiến pháp, luật pháp, chính sách…).
Chủ nghĩa xã hội quốc gia của Hítle (Đức quốc xã) muốn dựng lên một
đế chế của giống ngưới Aryan thượng đẳng, song hiện thân của nó là chủ
nghĩa phát-xít Đức, và nó là thủ phạm số 1 gây ra chiến tranh thế giới
II.
Chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô lúc đầu là cái nôi và là thành trì của
cách mạng vô sản thế giới, song tha hóa dần hướng về một đế chế trong
quan hệ giữa Nga và các nước trong Liên bang xô viết, cũng như giữa Liên
Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu với nhiều rạn nứt, để cuối cùng
là tan vỡ.
Ngay từ lúc quy mô nền kinh tế Trung Quốc còn đứng rất xa ngoài tốp
50 nước đứng đầu thế giới, chủ nghĩa xã hội/chủ nghĩa cộng sản của Mao
với quan điểm “gió Đông thổi bạt gió Tây” đã mang màu sắc bá quyền.
(Trung Quốc không theo CNML vì chống Liên xô, mà chỉ một thời nêu là
“chủ nghĩa Mác”).
Cả 3 chế độ toàn trị nói trên đều có những thảm sát đẫm máu lịch sử
sẽ không thể quên, những tội ác hủy hoại đến tận cùng quyền con người.
Trong khi đó những khát vọng thể hiện đặc trưng hay thuộc tính của
chủ nghĩa xã hội hiện thực hôm nay xuất phát từ những khát vọng xa xưa
của loài người, sớm nhất là từ thời Plato và Aristotle thuộc nền văn
minh Hy Lạp. Rồi những giá trị này trở thành những quan điểm chính trị
rõ rệt ở thế kỷ thứ 16, nổi bật là Thomas More (The Utopia), và ngày nay
vẫn là hoài bão của loài người về các giá trị của tự do, hạnh phúc…
Chủ nghĩa xã hội hiện thực – có thể nói như vậy – hôm nay được thấy
trước hết ở các nước Bắc Âu, thuộc phong trào dân chủ xã hội – nghĩa là
hoàn toàn không phải là sản phẩm của CNML. Tiền thân của phong trào dân
chủ xã hội ngày nay là Quốc tế II mà Marx và Engels lúc sinh thời đã phê
phán rất quyết liệt, cho là cải lương và thủ tiêu đấu tranh giai cấp.
Song sang thế kỷ 21 phong trào dân chủ xã hội trên thế giới cũng đang đi
vào thời kỳ thoái trào, xã hội loài người đứng trước nhiều vấn đề mới
truyền thống và phi truyền thống, những bất công mới, những đòi hỏi mới
trong quá trình toàn cầu hóa ngày nay; đồng thời – như 2 mặt của một
đồng xu, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 cũng đặt ra nhiều thách thức
mới…
Vậy CNML với tính cách là nền tảng lý luận của những gì được gọi là
xã hội chủ nghĩa hay định hướng XHCN được giảng dạy và thực hiện ở nước
ta thực chất là gì? Lãnh đạo đảng đang đòi hỏi phải bảo vệ, phải trung
thành với CNML nào, nó là những nội dung cụ thể gì? Nó có thể soi sáng
con đường nào cho đảng, dẫn đất nước đi tới đâu?.. Mọi câu trả lời tìm
được trong cuộc sống đều dẫn tới kết luận: Đó là một tập hợp lý luận đầy
khiên cưỡng, duy ý chí và mâu thuẫn, xong lại có nhiệm vụ xác lập và
biện minh cho vai trò độc tôn của ĐCS, là nền tảng lý luận, là lá cờ
giương lên để gò đất nước vào sự lãnh đạo của đảng, v v.., đồng thời là
nguồn gốc và mầm mống của chế độ toàn trị ở nước ta hôm nay.
Đáng lưu ý là nội dung của CNML về xây dựng CNXH được xác định tập
trung trong Tuyên bố Mạc-tư-khoa 1957 của các ĐCS và CN quốc tế đã có
nhiều điểm khiên cưỡng trái hẳn với lý luận của Mác[2].
Cho đến nay chưa một lần nào và bất kỳ ở đâu có thể thực hiện được nội
dung xây dựng chủ nghĩa xã hội như đã ghi trong tuyên bố Mạc-tư-khoa.
Đơn giản vì những điều đã được xác định này không hiện thực, duy ý chí,
nên thất bại[3].
Vì lẽ này các nước XHCN Liên Xô – Đông Âu cũ sụp đổ. Cũng vì lẽ này
Việt Nam đã phải tiến hành đổi mới 1986, và hiện nay đang bâng khuâng
không biết đến hết thế kỷ này sẽ có CNXH hay không?!.
Bi kịch kép của lý luận Mác là ngoài sự sụp đổ của các nước LXĐÂ cũ,
đến nay cũng chưa có một cuộc cách mạng nào thắng lợi đã xảy ra theo lý
luận của Mác. Trước khi mất 2 năm, Mác đọc cho con rể mình viết góp ý
với đường lối của Đảng công nhân Pháp: cách mạng có thể giành thắng lợi
bằng con đường hòa bình, nghĩa là không phải bạo lực, cụ thể là thông
qua bầu cử; 1895 Ăngghen cũng góp ý như vậy với Đảng Công nhân Đức, song
Lênin không biết những điều này… Sau khi Mác mất, Ăngghen tập hợp tiếp
các tác phẩm của Mác và đã có lúc thô thiển hóa những ý tưởng của Mác
thành “chủ nghĩa”… (Việt Phương và một số học giả nước ngoài khác). Việt
Phương còn dẫn ra những chỗ sai khác của Mác trong kinh tế chính trị
học. Đúng là dù vĩ đại đến mấy, con người bao giờ cũng vẫn là nhân vô
thập toàn: Mác là một trong những triết gia và nhà tư tưởng có ảnh hưởng
sâu rộng nhất – tích cực cũng như tiêu cực – đối với nhân loại trong
thế kỷ 20.
Có một điều cần suy nghĩ: Nếu đồng nhất (1) tư tưởng – lý luận Mác và
(2) phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, và (3)chủ nghĩa cộng sản
diễn ra dưới dạng các chế độ toàn trị ở tất cả các nước xã hội chủ nghĩa
làm một, e rằng sẽ không đúng. Dù tác động qua lại với nhau sâu sắc thế
nào, song đây vẫn là 3 thực thể khác nhau. Nên có nghiên cứu khách quan giải đáp thỏa đáng. Với cách đặt vấn đề như vậy, tôi cho rằng:
Phong trào cộng sản và công nhân quốc tế là một cuộc đấu tranh cách
mạng, là một phản ứng tất yếu và rất đáng trân trọng của nhân loại trước
thực tế phát triển đẫm máu và mồ hôi người lao động trong chủ nghĩa tư
bản cho đến những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 20, chính phong trào đấu
tranh cách mạng này đã góp phần quan trọng làm nên những tiến bộ xã hội
của nhân loại trong thế giới hôm nay.
CNTB nói chung hay là các nước tư bản – cũng có lúc với những đối
tượng nào đó ngôn ngữ ta gọi là các nước đế quốc – một phần do đòi hỏi
tự thân, một phần do tác động của các trào lưu tiến bộ, trong đó có
phong trào cộng sản và công nhân quốc tế – đã có rất nhiều điều chỉnh,
nhất là kể từ sau chiến tranh thế giới II đến nay, trên thực tế đã và
đang dẫn đầu thế giới trong thực hiện một số giá trị quan trọng.
Chủ nghĩa cộng sản như đã xuất hiện ở tất cả các nước XHCN thuở ban
đầu là kim chỉ nam của phát triển, và sau đó một mặt do duy tâm và duy ý
chí, mặt khác do tha hóa, dần dần biến thành chế độ toàn trị. Nhìn
chung, đó chính là sự diễn biến của một quá trình tha hóa.
Khi quyền lực của chế độ toàn trị là tuyệt đối với nhiều tội ác đẫm
máu, CNML ở tất cả các nước XHCN chỉ còn lại là cái tên (cái bình phong)
tuyệt đối, đã dẫn tới sự sụp đổ ở các nước LXĐA, và hiện vẫn đang tiếp
diễn ở các nước gọi là XHCN còn lại.
Chủ nghĩa cộng sản của phong trào cánh tả bắt đầu từ thời Mao-ít rộ
lên một thời ở một số nước đang phát triển song cũng tàn lụi rất nhanh,
để lại dĩ vãng đau buồn ở những nơi nó xuất hiện. Phong trào này không
có mối liên quan nào đó với CNML với nghĩa đang được hiểu.
CNML lúc đầu được hiểu và vận dụng như một học thuyết cách mạng dẫn
dắt sự phát triển của nước ta – dưới dạng xây dựng chủ nghĩa xã hội, rất
tả khuynh, song dần dần bị quyền lực biến tướng thành ý thức hệ bảo vệ
chế độ toàn trị. Quyền lực càng được củng cố bao nhiêu thì CNML càng bị
tước bỏ về nội dung bấy nhiêu. Hôm nay chỉ còn lại chức năng là cái mộc
và cái khiên của chế độ toàn trị.
Tất cả những thứ nêu trên đều không phải là hiện thân của lý luận Mác.
Vân… vân…
Nhân kỷ niêm 100 năm Tuyên ngôn Cộng sản, hội thảo quốc tế ở Paris
đánh giá: Trong toàn bộ tác phẩm của Mác, kể cả trong các thư riêng,
đỉnh cao của tư tưởng Mác thể hiện trong quan điểm được nói ra rành rọt,
nguyên văn là “Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện phát
triển tự do của mọi người!” – một lần duy nhất được viết ra trong
Tuyên Ngôn Cộng Sản. Nhưng tư tưởng này không hề được thực hiện trong
bất kỳ một nhà nước cộng sản nào cho đến nay, thậm chí bị vứt bỏ hoàn
toàn! (Xem bản ghi của Việt Phương).
Hơn nữa, trên đời này ngoài kinh thánh được các tín đồ của mình phong
tặng sự vĩnh cửu, không có lý luận khoa học nào là vạn năng, bất di bất
dịch và trường tồn – trong lĩnh vực khoa học xã hội càng không, vì con
người luôn luôn hướng về sự giải phóng chính mình; mọi thứ “chủ nghĩa”
đều phải áp đặt tư duy của chính nó. Chỉ có các giá trị mà con người xây
dựng nên được trong quá trình phát triển của chính mình là trường tồn.
Song các giá trị này cũng phải thường xuyên phát triển theo sự vận động
của thời gian, thời đại…
Đến đây có thể kết luận:
CNML như đang được hiểu và vận dụng ở nước ta là tam sao thất bản
(từ Liên xô, Trung Quốc), lại được tuyên giáo ta qua các thời kỳ “chế
biến thêm” và “chốt lại”… Một thứ CNML như thế hầu như chỉ còn lại là
một bình phong, một nhãn mác, hay là một căn cứ mơ hồ, chỉ để mang lại
cái chính danh cho “định hướng xã hội chủ nghĩa” mà Đảng muốn ốp cho đất
nước.
CNML như hiện nay ở nước ta chỉ còn làm được chức năng trang trí tư
tưởng, một thứ bùa hộ mệnh, một kiểu ngọn cờ… để biện minh cho vai trò
độc tôn và quyền lực của ĐCSVN hôm nay trong xã hội Việt Nam.
Nói trung thành với CNML dịch ra đúng nghĩa là áp đặt sự thừa nhận trạng
thái hoàn toàn bế tắc về lý luận của một đảng chính trị, và tính hư vô
của lý tưởng mà đảng theo đuổi.
Tất cả chỉ với mục đích duy nhất: củng cố quyền lực của Đảng, loại bỏ phản kháng, trấn áp bất đồng.
Trong cuộc sống thực của đất nước ta hôm nay, ngoại trừ một số quan
điểm sai lầm như chuyên chính vô sản, đấu tranh giai cấp, tập trung dân
chủ.., rất khó tìm được bất kể một quyết định, hay hành động hoặc một
kết quả thực tiễn nào của ĐCSVN hôm nay mang nội dung CNML như
đã được xác định trong Tuyên bố Mạc-tư-khoa 1957 nói trên, hoặc theo
chính các giáo lý giảng dạy. Đơn giản vì những thứ này đều không khả
thi. Song lại ngụy biện là vận dụng sáng tạo vào nước ta! Thực
tế này giải thích hiện tượng: Xây dựng CNXH ở nước ta do thất bại, nên
từ vài thập kỷ nay buộc phải hạ thấp xuống thành “định hướng XHCN”. Tuy
thế đến bây giờ vẫn không xác định rõ được ĐHXHCN là cái gì. Đơn giản vì
“định hướng” như thế không có thực. Tất cả những gì tốt đẹp định làm và
cố tìm cách gói ghém chúng vào khái niệm ĐHXHCN ở nước ta – ví dụ như
công bằng, dân chủ, văn minh, phúc lợi xã hội, chống bóc lột, trách
nhiệm của nhà nước… – trên thực tế chỉ là những bánh vẽ, hoặc giả có
điểm nào cố sức làm (ví dụ trong y tế, trong giáo dục, trong thực hiện
qua loa một số quyền tự do dân chủ nào đó…) kết quả nếu đạt được thường ở
mức độ rất thấp và kém rất xa tất cả các nước cùng ở mức thu nhập trung
bình (thấp) như nước ta, kém hẳn các nước phát triển.
Sự thật là nước ta hiện nay bị xếp vào nhóm “top” các quốc gia có chế
độ chính trị mất tự do dân chủ, vi phạm nhân quyền và bất công nhất
trên thế giới. Cho nên càng bàn mãi về ĐHXHCN càng bí. Vì vậy tuyên giáo
của Đảng đã “chốt” lại hộ để khỏi phân vân mãi chưa ra: Cốt lõi của
“định hướng XHCN” là bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, giữ vững kinh tế
nhà nước là chủ đạo! Song oái oăm thay chính cái được “chốt” lại này
lại là nguồn gốc của chủ nghĩa tư bản thân hữu và tư bản hoang dã đạt
tới đỉnh cao ở nước ta 10 năm qua, bây giờ Đảng phải kêu gọi chống.
Trong khi đó Nghị quyết Trung ương 5 khóa XII lại quy kết mầm mống của
chủ nghĩa tư bản thân hữu ở nước ta là kinh tế tư nhân! Phi lý đến
thế là cùng. Song chính cái “chốt” lại này khiến nước ta xin mãi hàng
chục năm nay sự công nhận là “kinh tế thị trường” mà vẫn không được!
Cuộc sống luôn luôn đòi hỏi giải phóng tư duy khỏi sự kìm kẹp của ý
thức hệ, để mở mang trí tuệ phấn đấu cho những giá trị đã được văn minh
của nhân loại xác lập./. Phụ lục III
Về ĐCS Trung Quốc và ĐCS Việt Nam Nguyễn Trung
Một trong những cái lầm chết người từ Thành Đô đến nay là ta bị «16
chữ và 4 tốt» mê hoặc, cứ tưởng ta giống Trung Quốc, nên có thể đi với
nhau, dựa vào nhau, học nhau, cùng đi lên chủ nghĩa xã hội.., mà quên mất ta không hề, không bao giờ, và không thể giống Trung Quốc về bất kỳ phương diện nào, nhất là quên khuấy đi mất trước sau ta chỉ là cái đích của Trụng Quốc!
Xin nhắc lại : ĐCSVN không bao giờ giống ĐCSTQ, nên không thể và không được làm theo TQ! Đừng bao giờ quên điều chết người này!
Hữu nghị, hợp tác… vân vân… là những chuyện hoàn toàn khác và chỉ thuộc lĩnh vực đối ngoại.
Sự thật đơn giản thế này:
– Trung Quốc của một đế chế hồi sinh luôn luôn cần một đảng độc tài
toàn trị cực mạnh để giữ cho Trung Quốc khỏi tan rã thành những nước
nhỏ, và để tạo lực chiếm ngôi bá chủ trên thế giới. Mao Trạch Đông đã
nhiều lần khẳng định công khai: ĐCSTQ là vô thiên vô pháp, trời cũng
không so được! Cứ nhìn những gì đẫm máu đã xảy ra ở TQ và những hành
vi của TQ trên thế giới từ thời Mao cho đến hôm nay, sẽ thấy quan điểm
«vô thiên, vô pháp, mục tiêu biện minh cho biện pháp» của Mao là xuyên
xuốt toàn bộ hệ thống chính trị Trung Quốc về đối nội cũng như đối ngoại.
– Nhưng Việt Nam là một láng giềng sát nách lại cần một đảng cầm
quyền xây dựng cho quốc gia mình một thể chế chính trị dân chủ lành
mạnh, để phát huy hết mức sức mạnh dân tộc và tranh thủ dược cả thế giới
hậu thuẫn, qua đó mới có thể tồn tại và trở thành một láng giềng được
tôn trong của Trung Quốc! Việt Nam không làm được như thế thì chắc chắn
sẽ chỉ là cái đích TQ đã bỏ túi.
Hiển nhiên như ban ngày: Xem vậy nhiệm vụ chính trị đối với quốc gia của 2 đảng Trung Quốc và Việt Nam đối nghịch nhau như giữa đen và trắng vậy. Đừng giây phút nào mơ hồ điều này! Đừng để cho lăng kính ý thức hệ nhìn lệch sự thật này.
Cho nên “16 chữ và 4 tốt” chỉ là ngoại giao Trung Quốc đưa ra mà
thôi, phải luôn luôn đối chiếu giữa nói và làm như thế nào. Rất tiếc
rẳng “16 chữ và 4 tốt” khi ra đời Trung Quốc lúc ấy mới chỉ làm xong
việc chiếm các đảo của ta, hôm nay làm xong việc hình thành một hệ thống
căn cứ quân sự trên các đảo này.
Nếu ĐCSVN hôm nay nghĩ mình giống Trung Quốc, chọn nhiệm vụ chính trị
của mình là học và làm theo Trung Quốc, làm giống Trung Quốc.., thì vô
lý quá. Ví dụ, Trung Quốc làm Thiên An Môn, chẳng lẽ ta cũng làm Thiên
An Môn? Trung Quốc khủng bố Lưu Hiểu Ba, ta cũng phải bắt chước? Lại còn
học Trung Quốc nhiều thứ chính trị khác, nhờ Trung Quốc đào tạo cán bộ,
lại cả cán bộ cao cấp nữa… Làm như thế sẽ chỉ hàm nghĩa là làm cho nước mình sớm trở thành cái đích đạt được của Trung Quốc mà thôi!
Cho phép tôi nói bỗ bã thế này:
Đảng của Trung Quốc cần bạo quyền để giữ bá quyền trong nước và đối
với thế giới, nhiệm vụ chính trị đối với quốc gia của nó là thế.
Đảng của Việt Nam cần dân chủ phát huy nội lực của nhân dân và giành
được vị thế tranh thủ được hậu thuẫn của cả thế giới để làm cho nước
mạnh có thể sống được bên cạnh Trung Quốc.
Nghĩa là mỗi đảng này có nhiệm vụ chính trị đối với quốc gia của nó khác nhau như giữa đêm và ngày, giữa nước và lửa vậy!
Nếu đảng của Việt Nam cũng bắt chước đảng Trung Quốc làm bạo quyền,
thì giỏi lắm cũng chỉ có thể bạo quyền với chính nhân dân nước mình mà
thôi. Nhưng làm như thế, sẽ giúp Trung Quốc bá quyền được nước mình sớm
hơn! Nếu làm như thế, đảng của Việt nam sẽ là đảng gì? Dân có để cho
đảng yên không? Đảng của Việt Nam có nên như thế không? Phải nghĩ lại!
Hai đảng này không giống nhau chút nào cả.
Nhất thiết phải tạo dựng được quan hệ hữu nghị và hợp tác lâu dài với
Trung Quốc. Song nếu ta muốn đạt được điều này, nhất thiết phải có nhân
cách, bản lĩnh và thực lực; còn nếu chỉ là kẻ dặt dẹo, là con nghiện,
thì hữu nghị và hợp tác chỉ có thân phận kẻ ăn mày và chứ hầu mà thôi! Nói đến hữu nghị và hợp tác với Trung Quốc là phải nói đến hữu nghị thật, hợp tác thật, trước sau phải làm bằng được.
Có thể sẽ không phải quá lời: Không ai cần mối quan hệ hữu nghị láng
giềng tốt với Trung Quốc bằng Việt Nam! Cũng chưa nước nào bỏ ra nhiều
công sức như thế cho mục tiêu này. Song cũng chưa nước nào phải trả giá
đắt như Việt Nam. Đấy là sự thật trần trụi.
Nếu hiện nay hữu nghị – hợp tác với Trung Quốc chưa được là thật, thì
ta phải tìm cách tạo ra lực đứng trên đôi chân của ta, để khẳng định
được là chính ta, nhờ đó để có thể làm cho hữu nghị và hợp tác với Trung
Quốc trở nên thật.
Còn hữu nghị cửa miệng, hợp tác cửa miệng, sẽ chỉ là lừa nhau mà
thôi. Nhìn lại, lừa nhau như thế, cho đến nay hầu như chỉ có ta bị lừa.
Làm ngoại giao cả đời, tôi chưa thấy ta lừa nổi Trung Quốc một lần nào,
vì nước này lớn quá và xảo quyệt quá để có thể lừa. Vậy chỉ còn con
đường tạo ra thực lực và bản lĩnh để có được hữu nghị thật, hợp tác thật
với Trung Quốc thì mới sống được! Thứ này không xin được.
Hay là chọn con đường làm chư hầu!? Xin đừng quên lịch sử quan hệ Việt – Trung hơn một nghìn năm nay!
Không có con đường giả vờ nào khác mà đi cả. Tất cả cho thấy chỉ còn cách phải đổi đời để sống thật!
Mất nước 80 năm vào tay thực dân Pháp, chỉ vì triều Nguyễn hồi ấy
chưa nghĩ đến đổi đời để bước vào cái thế giới đã thay đổi mà sống. Bây
giờ có lại được độc lập thống nhất, nhưng trong một thế giới lại thay
đổi tiếp. Bài học rút ra từ 80 năm thuộc địa «phải đổi đời để sống»
chẳng lẽ hôm nay vô nghĩa đối với ĐCSVN hay sao? Nguy cơ tái diễn cái
quán tính lịch sử tệ hại của những thế kỷ đất nước ta đã sống trong cái
bóng Trung Quốc chính là ở chỗ này! Xin nhấn mạnh một lần nữa : Nhiệm vụ chính trị và trách nhiệm
đối với quốc gia của ĐCSVN chẳng có một nét mảy may nào giống đảng của
Trung Quốc – và đây chính là chỗ lãnh đạo ĐCSVN hôm nay mơ hồ nhất, mất
cảnh giác nhất! Cứ nghĩ cùng là XHCN thì giống nhau và đi được với
nhau! Với những thất bại nghiêm trọng cho đất nước và những hệ quả lâu
dài đến hôm nay vẫn chưa tỉnh và chưa sao gỡ ra được!
Mong suy nghĩ kỹ điều này.
Xin nhắc lại tại đây lãnh đạo đảng thời hai cuộc kháng chiến chống
ngoại xâm và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc đã từng tổng kết: Mọi
thắng lợi đạt được, trước hết là nhờ độc lập tự chủ trong tư duy và
đường lối, mọi thất bại vấp phải là do mất độc lập tự chủ trong tư duy
và rập khuôn Trung Quốc! Lãnh đạo hồi ấy đã kiểm điểm sâu sắc những bài
học đau đớn như cải cách ruộng đất, cải tạo tư sản, chỉnh huấn, rèn cán
chỉnh cơ, để cho ý thức hệ mao-it ảnh hưởng đến một số đường lối chính
sách… Thậm chí hồi đó đã có người còn muốn nhập khẩu cả cách mạng văn
hóa vào Việt Nam, nhưng đã bị bác bỏ quyết liệt… Bộ chính trị hồi đó
luôn luôn nhắc nhở phải độc lập tự chủ trong tư duy và cảnh giác với mọi
thâm nhập từ bên ngoài và giáo điều, quyết không để cho bên ngoài – dù
là ai – can thiệp vào đường lối cách mạng của mình.
Nghị quyết 15 về đẩy mạnh kháng chiến cứu nước của ta và Nghị quyết 9
về đối ngoại là những vị dụ tiêu biểu về kiên định độc lập tự chủ trong
tư duy chiến lược và trong hành động, quyết gạt bỏ mọi ảnh hưởng, tác
động, áp lực từ bên ngoài, để thực hiện đến cùng mục tiêu chiến lược
giành lại độc lập thống nhất đất nước.
Xin kể lại như vậy với các thế hệ lãnh đạo hôm nay để tham khảo.
Muốn hay không, Trung Quốc hôm nay đã trở thành vấn đề của cả thế
giới. Thực tế khách quan này đối với Việt Nam còn nghiêm trọng hơn, sát
phạt hơn nhiều. Nước ta không lựa chọn được thế giới, nên chỉ còn cách
làm sao lựa chọn được vị thế quốc gia phải có để sống được trong thế giới này – trong đó có đòi hỏi không thể thiếu là phải xác lập bằng được quan hệ lâu dài láng giềng tốt với Trung Quốc, có được hữu nghị thật, hợp tác thật.
Nhìn rõ và quyết nắm lấy bằng được cái đích này, mỗi người Việt chúng
ta – và trước hết là đảng nắm quyền, sẽ biết được và xác định được con
đường phải đi và phải làm gì. Trời đất không cho chúng ta thoát khỏi nhiệm vụ này,
địa kinh tế và địa chính trị của thế giới hôm nay đặt lên vị trí địa
đầu của nước ta số phận như vậy. Nên chi còn cách xác lập lòng tự trọng,
thay đổi chính bản thân mình, để bắt tay thực hiện cái quy luật muôn
đời : «Có lực mới vực được đạo!». Người Nhật, người Hàn Quốc,
người Israel cho chúng ta nhiều bài học thành công của quốc gia họ xuất
phát từ trân quý lòng tự trọng này. Xin cùng nhau suy nghĩ về điều này.
Nước ta trước sau rất muốn, rất cần hữu nghị – hợp tác với Trung Quốc,
nhưng phải gian khổ tìm cách tạo lập nên, thứ này không thể xin được.
Nói đất nước đã sang trang trong một thế giới đã sang trang, trước hết nên bắt đầu từ suy nghĩ như trên./.
Hà Nội – Võng Thị, 20-09-2017 Phụ lục IV VỀ SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂU CỦA XÃ HỘI DÂN SỰ Ở VIỆT NAM Phạm Khiêm Ích
Xã hội dân sự ở Việt Nam có quá trình hình thành và phát triển khá
đặc biệt, gặp nhiều khó khăn, trắc trở, khi nở rộ, khi lụi tàn. Vai trò
của nó đối với quá trình phát triển kinh tế – xã hội hiện nay rất mờ
nhạt.
Xã hội dân sự (XHDS) đã hình thành cùng với sự hình thành nhà nước
pháp quyền dân chủ, từ sau Cách mạng tháng Tám. Đây là điều được Chủ
tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm. Ngay sau khi đọc Tuyên ngôn Độc lập,
ngày 3/9/1945 trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí
Minh nêu rõ việc tổ chức sớm Tổng tuyển cử, xây dựng một Hiến pháp dân
chủ, đảm bảo cho nhân dân thực hiện quyền tự do dân chủ là một trong sáu
nhiệm vụ cấp bách nhất. Ngay sau đó ngày 8/9/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh
ký sắc lệnh số 14/SL mở cuộc Tổng tuyển cử để bầu Quốc hội.
Sau bốn tháng chuẩn bị trong những điều kiện vô cùng khó khăn, ngày
6/1/1946 cuộc Tổng tuyển cử đã được tiến hành trên phạm vi cả nước,
trong một bầu không khí dân chủ thật sự. Trong bản báo cáo ngắn gọn
trước Quốc hội tại kỳ họp thứ nhất ngày 2/3/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh
khẳng định: “Trong cuộc toàn quốc đại hội đại biểu này, các đảng phái
đều có đại biểu mà đại biểu không đảng phái cũng nhiều, đồng thời phụ nữ
và đồng bào dân tộc thiểu số cũng đều có đại biểu. Vì thế cho nên các
đại biểu trong Quốc hội này không phải đại diện cho một đảng phái nào mà
là đại biểu cho toàn thể quân dân Việt Nam. Đó là một sự đoàn kết tỏ ra
rằng lực lượng của toàn dân Việt Nam đã kết thành một khối”.
Một thành tựu có tính lịch sử mà Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại là bản
Hiến pháp đầu tiên của nuớc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa mà Nguời là Truởng
Ban Dự thảo. Hiến pháp ấy xác định nhiệm vụ của dân tộc ta trong giai
đoạn này là: “bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết
quốc gia trên nền tảng dân chủ”. Bản Hiến pháp dân chủ này ghi ngay
trong trong Điều 1 : “Nuớc Việt Nam là một nuớc dân chủ cộng hòa. Tất cả
quyền bính trong nuớc là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân
biệt giống nòi, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”.
Đặc biệt Hiến pháp đầu tiên đã khẳng định những quyền cơ bản của công
dân Việt Nam: Quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức hội
họp, tự do tín nguỡng, tự do cu trú, đi lại trong nuớc và ra nuớc ngoài
(Điều 10). Công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, nhà ở, thư
tín… (Điều 11). Quyền tư hữu tài sản được đảm bảo (Điều 12).
Những điều trên đây chứng tỏ rằng giữa XHDS với nhà nuớc pháp quyền
và chế độ dân chủ có quan hệ mật thiết, bổ sung cho nhau. Không thể có
cái này mà không có cái kia.
Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chỉ công nhận và tôn trọng
những quyền cơ bản của công dân, mà còn tạo điều kiện cho mọi công dân
thực thi những quyền ấy. Tôi muốn nói đến những Sắc lệnh và những Nghị
định của Chính phủ tạo điều kiện cho công dân thực thi quyền tự do lập
hội và tự do ngôn luận.
Ngày 22/4/1946 Chủ tịch Chính phủ Liên hiệp kháng chiến ký Sắc lệnh
số 52 quy định việc lập hội. Sắc lệnh này, ngoài chữ ký của chủ tịch Hồ
Chí Minh còn có chữ ký của Bộ trưởng Bộ Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng, Bộ
trưởng Bộ Tư pháp Vũ Đình Hòe và Bộ trưởng Bộ Tài Chính Lê Văn Hiến. Lúc
này chưa có Hiến pháp, Sắc lệnh này là hình thức pháp lý cao nhất. Sắc
lệnh xác định: “Hội là một đoàn thể có tính cách vĩnh cửu gồm hai hoặc
nhiều người giao ước hiệp lực mà hành động để đạt mục đích chung; mục
đích ấy không phải là để chia lợi tức” (Điều l). Định nghĩa trên đây
xác nhận “hội” không phải là tổ chức kinh tế để chia lợi tức, cũng không
phải là cơ quan Nhà nước, đó chính là tổ chức XHDS. Sắc lệnh quy định:
“Cấm không được lập những hội có mục đích và hoạt động làm đồi bại phong
tục, hại đến trật tự chung, hoặc đến sự an toàn của quốc gia” (Điều 2).
Thủ tục thành lập hội rất đơn giản và dễ dàng. Người sáng lập hội
phải đủ 21 tuổi, là người xưa nay không có can án thường phạm. Những
người sáng lập ra hội phải làm Giấy khai, kèm theo hai bản Điều lệ gửi
cho Uỷ ban hành chính Kỳ (tức là Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ), hoặc Bộ Nội
vụ. 15 ngày sau khi nhận được Giấy khai và Điều lệ, Ủy ban hành chính Kỳ
sẽ phải chuyển cả hồ sơ và phát biểu ý kiến lên Bộ Nội vụ. Bộ trưởng Bộ
Nội vụ xét hồ sơ và nếu cho phép hội thành lập sẽ ký Nghị định cho
phép. Sau hạn 45 ngày kể từ hôm phát biên lai, nếu Bộ Nội vụ không trả
lời ngăn cấm hội thành lập và hoạt động, thì hội sẽ coi như được thành
lập (Điều 3, Điều 4).
Nguyên tắc bắt buộc là phải tôn trọng sự tự nguyện của hội viên:
“Không hội viên nào có thể bị cưỡng bách ở trong hội. Tuỳ ý hội viên
muốn xin ra bao giờ cũng được, dù hội lập ra có thời hạn nhất định mặc
lòng, miễn là hội viên xin ra hội đã thanh toán các trái khoán đối với
hội và đã báo trước một tuần lễ” (Điều 7).
Chỉ 2 tuần sau khi công bố sắc lệnh, ngày 6/5/1946 Bộ trưởng Bộ Nội
vụ Huỳnh Thúc Kháng đã ký Nghị định cho phép Nghiệp đoàn khách sạn Việt
Nam được thành lập. Đó là hiệp hội sớm nhất được thành lập theo quy định
của sắc lệnh số 52 ngày 22/4/1946. Từ đó đến cuối năm 1946, trong vòng 6
tháng có tới 65 hội được thành lập, tính trung bình cứ 3 ngày có thêm 1
hội mới. Các hội tiêu biểu là: hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (Nghị
định thành lập ngày 5/7/1946, về sau đổi tên thành Mặt trận Tổ quốc Việt Nam),
đảng Xã hội Việt Nam (30/7/1946), Liên đoàn Công giáo Việt Nam
(6/8/1946), Liên đoàn Lao động trí thức thành phổ Đà Nằng (26/8/1946),
Hội Công chức Bình Định (11/10/1946), hội Cựu đệ tứ Cứu thế Ái
hữu ở Hàm Nghi, Thuận Hóa (được tiếp tục hoạt động), hội Kiến thiện Kiến
An ở Hải Phòng (11/10/1946), hội Việt Nam học xá Nhân viên Ái hữu ở Hà
Nội (30/8/1946), hội Từ Liêm Văn học Ái hữu làng Phú Mỹ, huyện Từ Liêm
(11/10/1946), hội Văn miếu văn học hiệp hội ở Hà Nội (3/7/1946), hội Phụ
nữ ca vũ tương tế có trụ sở ở biệt thự Thanh Hà làng Thổ Quan, Ô Chợ
Dừa, Hà Nội (3/7/1946), đoàn Nữ hướng đạo Việt Nam trụ sở ở Hà Nội
(11/10/1946), hội Hợp thiện ở 125 Phùng Hưng, Hà Nội (5/6/1946 được phép
tiếp tục hoạt động), hội Việt – Mỹ thân hữu (5/6/1946 được phép tiếp
tục hoạt động).
Quả thật các hội rất đa dạng, từ các hiệp hội nghề nghiệp, các tổ
chức quần chúng, các tổ chức tôn giáo, văn học nghệ thuật, các tổ chức
chính trị, các NGO và phần lớn là các tổ chức Ái hữu. Đây chính là các
tổ chức XHDS, hình thành ở rất nhiều tỉnh thành trong cả nước. Cần nhấn
mạnh rằng Đảng Xã hội VIệt Nam được thành lập theo Sắc lệnh số 52 quy
định việc thành lập Hội (đảng dân chủ Việt Nam được thành lập từ năm
1944, trước sắc lệnh số 52). Như vậy Đảng cũng chỉ là một thứ hội mà
thôi, không phải là một thứ gì thần thánh hóa cả. Suốt trong 6 tháng chỉ
có một trường hợp Bộ Nội vụ bác đơn xin thành lập hội của “Quốc gia
thanh niên đoàn” ngày 23/5/1946. Bác đơn như vậy cũng có Nghị định đàng
hoàng, công khai. Trong tình thế rất khó khăn hiểm nghèo phải có lòng
tin tuyệt đối vào nhân dân thì Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ đầu
tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa mới có thể mạnh dạn phát huy
tinh thần dân chủ của mọi tầng lớp nhân dân như vậy.
Trong khi đó hơn 10 năm nay Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam không thông qua được Luật lập hội, nghe nói đã có đến bản dự
thảo lần thứ 14! Chẳng lẽ lại sợ XHDS, sợ dân đến như vậy sao? Thật vô
lý, thật đáng buồn!
Cùng với việc tạo hành lang pháp lý cho nhân dân thực hiện quyền tự do lập hội, Chính phủ đầu tiên cũng tạo mọi điều kiện thuận lợi để nhân dân thực hiện quyền tự do ngôn luận.
Ngay từ tháng 9 năm 1945 Chính phủ đã công bố thể lệ mới về việc cho
phép xuất bản báo chí. Chỉ trong vòng 3 tháng cuối năm 1945, Bộ Nội vụ
do ông Võ Nguyên Giáp làm Bộ trưởng đã ký hàng loạt Nghị định cho phép
xuất bản 87 tờ báo (hầu hết là báo tư nhân), báo hàng ngày và hàng tuần
bằng tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Hoa. Như vậy trung bình
cứ một ngày lại có thêm một tờ báo mới.
Có thể kể ra một số tờ báo tiêu biểu:
– Nhật báo Tự do của ông Trần Khánh Dư xuất bản tại Hà Nội theo Nghị định của Bộ trưởng Bộ Nội vụ ngày 8/10/1945.
– Tuần báo Văn mới của ông Trương Tửu (8/10/1945), Việt Nam hồn của ông Lê Văn Trương. Báo Dân quyền của ông Lê Văn Thanh.
-Tuần báo Ý Dân của ông Nguyễn Quang Cận (12/10/1945), Tuần báo Nói thẳng của ông Đoàn Phú Tứ (7/12/1945). Nhật báo Nói thật của ông Trịnh Văn Hoàng tại Nam Định (7/12/1945). Tuần báo Văn Hóa của ông Từ Giấy. Tuần báo Bạn gái của bà Nguyễn Thị Lý. Tuần báo Tòa sen của ông Trịnh Giai Ngân. Tờ Đa Minh bán nguyệt san của Nhà chung Bùi Chu, Nam Định (24/11/1945). Đội Cấn tuần báo của ông Nguyễn Nhật Thăng tại Thái Nguyên (22/10/1945). Quyết chiến tuần báo của ông Dương Thế Châu tại Phủ Lý (22/10/1945). Tuần báo Bạn quê của ông Hoàng Tiến Lộc tại Hải Dương (24/10/1945). Báo Dân chủ nhật báo của ông Đỗ Trọng Giang tại Hải Phòng (24/10/1945). Việt Mỹ tạp chí của bán nguyệt san tại Hà Nội (31/10/1945). Hanoi Tribune báo
hàng ngày bằng tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Pháp của ông E.de Pollak
(17/11/1945). Tờ La République và The Republic của ông Nguyễn Đình Thi
(28/9/1945). Tờ L’Entente báo hàng ngày của ông Jean Saumont. Báo Nam Hoa báo hàng ngày bằng tiếng Việt và tiếng Hoa của ông Hồ D3ếnh.
Những số liệu trên đây chứng tỏ XHDS đã hình thành rõ rệt, tất nhiên
dưới dạng sơ khai, chưa hoàn thiện, nhưng đã đóng vai trò thiết yếu
trong buổi đầu xây dựng một nước Việt Nam dân chủ, tự do. Không có XHDS
làm sao có dân chủ, tự do được?
Cuối năm 1946 kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Từ đó đến năm 1979 nước
ta trải qua 3 cuộc chiến tranh ác liệt, chiến tranh chống thực dân Pháp,
chống đế quốc Mỹ và chống bọn bành trướng bá quyền Bắc Kinh năm 1979.
Chiến tranh kéo dài làm đảo lộn cuộc sống xã hội, hạn chế rất nhiều tự
do, dân chủ của người dân. Năm 1950 Việt Nam mở cửa biên giới với Trung
Quốc, chúng ta có thêm súng đạn, lương thực để chống thực dân, đồng thời
cũng có cả chủ nghĩa Mao nữa. Các sách Bàn về mâu thuẫn, Bàn về thực
tiễn là sách gối đầu giường của nhiều nhà lý luận triết học ở ta. Năm
1953 ta tiến hành cải cách ruộng đất, rồi hợp tác hóa nông nghiệp, cải
tạo tư sản… Sau đó là các vụ Nhân văn giai phẩm, Chống xét lại, đã gây
hận thù sâu sắc trong lòng dân tộc tại Việt Nam. XHDS cứ lịm dần, lịm
dần… Đặc biệt sau chiến tranh, chuyên chính vô sản được xác lập trên
phạm vi toàn quốc. Hiến pháp năm 1980 long trọng xác nhận điều đó, cùng
với việc xác nhận vai trò độc quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Mô hình
Xô Viết được xác lập. Điều 6 Hiến pháp Liên Xô được sửa đổi thành Điều 4
Hiến pháp Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Giờ đây khái niệm “Chuyên
chính vô sản” ghê sợ không được sử dụng nữa mà thay bằng “Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa”. Nhưng điều đó không thay đổi gì về bản chất,
cơ chế chung “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” được
Tổng bí thư Lê Duẩn định nghĩa là “chuyên chính vô sản ở Việt Nam” vẫn
giữ nguyên trong Hiến pháp 1992 và Hiến pháp sửa đổi năm 2013. Do vậy
nhà nước pháp quyền XHCN chỉ là biến thái của chuyên chính vô sản mà
thôi. Trong quá trình phát triển đó XHDS bị xóa bỏ, để nhường chỗ cho xã
hội toàn trị (totalitarian society).
Từ đầu thập niên 90, cùng với quá trình dân chủ hóa đất nước, XHDS
từng bước được phục hồi. Nhiều nhà nghiên cứu phân tích quá trình dân
chủ hóa trên thế giới đã rút ra kết luận là: quá trình dân chủ hóa ở tất
cả các nước đều gắn liền với sự hình thành và phát triển của XHDS.
Không như vậy, quá trình dân chủ hóa sẽ không có nội dung xác thực. Dân
chủ hóa về thực chất là chuyển quyền lực chính trị trong tay Nhà nước
sang tay nhân dân. Nhân dân phải trở thành chủ thể của quyền lực Nhà
nước. Đấy chính là Nhà nước pháp quyền đích thực, Nhà nước của dân, do
dân và vì dân, hay như Hiến pháp dân chủ năm 1946 ghi rõ: “tất cả quyền
bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam”. Chính vì vậy chúng
tôi nhiều lần khẳng định: “XHDS, nhà nước pháp quyền và dân chủ là không
thể tách rời”. Điều đó đòi hỏi phải cải cách chính trị, chuyển đổi thể
chế chính trị của nước ta từ toàn trị sang dân chủ một cách ôn hòa.
Xã hội toàn trị là đối lập với XHDS. Khái niệm này chỉ những xã hội
thực hiện một sự kiểm soát hoàn toàn đối với toàn bộ đời sống xã hội nói
chung và đời sống mỗi con người nói riêng. Hannah Arendt dùng khái niệm
này để khái quát các chế độ có bản chất và đặc trưng giống nhau, dựa
trên sự thống trị tuyệt đối của Nhà nước đối với các công dân trong tất
cả các lĩnh vực đời sống xã hội. Những nét chủ yếu của xã hội toàn trị
là:
– Lấy một hệ tư tưởng đặc biệt làm nền tảng cho sự tồn tại của chế độ
và hợp pháp hóa quyền tồn tại của nó, toàn thể nhân dân bắt buộc phải
coi hệ tư tưởng đó là hệ tư tưởng thống trị toàn xã hội.
– Đặt lợi ích và các quyền tự do của cá nhân phục tùng tuyệt đối lợi ích xã hội, do Nhà nước đại diện.
– Quyền lực chính trị nằm trong tay một đảng duy nhất, đảng cầm quyền và Nhà nước hòa thành một thể thống nhất.
– Xã hội bị Nhà nước hóa triệt để, xã hội dân sự bị xóa bỏ, đặc biệt
là cấm các đảng chính trị khác và tất cả các tổ chức xã hội không thuộc
quyền lãnh đạo của Đảng cầm quyền.
– Vai trò của pháp luật bị giảm sút, Nhà nước có quyền quyết định mọi
cái mà không bị kiểm soát,hoặc hạn chế bởi luật pháp, không có tam
quyền phân lập để hạn chế sự lạm quyền, nhà nước pháp quyền bị xóa bỏ.
– Thực hiện độc quyền ngôn luận và thông tin; mọi phương tiện thông
tin và báo chí đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ của bộ máy Đảng và Nhà
nước.
– Lấy bạo lực làm phương tiện hàng đầu của sự thống trị; sử dụng khủng bố chính trị như một công cụ chính trị đối nội.
Trái ngược với xã hội toàn trị là xã hội dân sự. Có vô vàn định nghĩa
khác nhau về xã hội dân sự. Nhưng theo tôi, định nghĩa của học giả
Nguyễn Khắc Viện và Nguyễn Kiến Giang trong cuốn Từ điển Xã hội học năm 1994 đã làm nổi bật được cái cốt lõi của xã hội dân sự (được gọi là xã hội công dân). Đó là xã
hội trong đó người dân là chủ thể của xã hội và do đó cũng là chủ thể
của nhà nước, Nhà nước phục tùng lợi ích của công dân, mà không phải
ngược lại.
Định nghĩa này quán triệt được quan niệm mà K. Marx đã nêu ra trong Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hegel về
mối quan hệ giữa xã hội dân sự với Nhà nước: “Nhà nước chính trị không
thể tồn tại nếu không có cơ sở tự nhiên là gia đình và cơ sở nhân tạo là
xã hội dân sự. Chúng là conditio since qua non (điều kiện cần
thiết) của Nhà nước. Nhưng (ở Hegel) điều kiện biến thành cái chịu điều
kiện, cái quy định biến thành cái bị quy định, cái sản sinh biến thành
sản phẩm của sản phẩm của nó”. Như vậy “Mối quan hệ thật sự ở đây đã đặt
lộn ngược. Ở đây điều giản đơn nhất được miêu tả thành rối rắm nhất;
còn điều rối rắm nhất lại được miêu tả thành điều giản đơn nhất, cái
phải là điểm xuất phát thì trở thành kết quả thần bí, còn cái lẽ ra phải
có tư cách là kết quả hợp lý thì lại trở thành điểm xuất phát thần bí”.
Trên đây là K.Marx phê phán quan điểm của Hegel. Rất tiếc rằng, ngày
nay một số người tự nhận là theo chủ nghĩa Marx, nhưng lại tuyệt đối hóa
vai trò của Nhà nước, biến Nhà nước thành chủ thể, còn công dân chỉ
biết phục tùng Nhà nước chuyên chế. Thật ta, trong mọi xã hội đều có hai
cực: Công dân và Nhà nước. Ngay cả trong xã hội dân sự, cũng không thể
không có Nhà nước đứng ra điều khiển và quản lý các công việc xã hội,
nhưng tất cả những điều đó đều nhằm thực hiện đầy đủ các quyền của công
dân, các quyền của con người, trong khi đòi hỏi các công dân thực hiện
những nghĩa vụ của mình với nhà nước, cũng tức là đối với toàn xã hội.
Vai trò của Nhà nước trong xã hội dân sự khác về nguyên tắc trong xã hội
cực quyền, ở đó lợi ích và quyền của con người bị đặt xuống dưới và hy
sinh cho lợi ích và các quyền của nhà nước chuyên chính.
Xã hội dân sự là một thành tựu to lớn của sự phát triển lịch sử của
loài người. Xã hội dân sự là một cơ thể phát triển không ngừng và hoàn
thiện không ngừng. Những yếu tố cấu thành của xã hội ấy là: Sở hữu của
các công dân với tư cách cá nhân, các quyền tự nhiên của con người và
các quyền tự do cá nhân của công dân, chế độ dân chủ về mặt chính trị và
nhà nước pháp quyền. Bản thân các yếu tố ấy cũng không ngừng phát triển
và hoàn thiện, cùng với sự phát triển và hoàn thiện của toàn bộ hệ
thống xã hội dân sự.
Ngày nay, trong quá trình dân chủ hóa, ngày càng nhiều người nhận
thức sâu sắc rằng chỉ có thể xây dựng chế độ dân chủ trên cơ sở xã hội
dân sự. Chừng nào xã hội dân sự chưa vững vàng thì chừng đó dân chủ vẫn
chưa được bảo đảm. Ngược lại, dân chủ hóa là một trong những động lực
chính để xây dựng xã hội dân sự.
Việc chuyển từ xã hội cực quyền sang xã hội dân sự ở nước ta gặp rất
nhiều khó khăn, phức tạp. Nhưng đây là quá trình tất yếu không thể đảo
ngược được. Hà Nội, ngày 24 tháng 9 năm 2017